Cuối năm 1953, sau nhiều năm gián đoạn viêc học do hoàn cảnh gia đình và chiến tranh, tôi bắt đầu được cắp sách đến trường trở lại.

Lần cuối bị gián đoạn việc học, khoảng cuối năm 1948, khi tôi đang học lớp ba được vài tháng tại trường tiểu học Gia Hội Huế, với thầy Hạnh, tôi không nhớ họ của Thầy. Có lẽ Thầy Hạnh là vị thầy hiền từ và thương học trò nhất trường lúc bấy giờ. Nếu không phải thế, làm sao một học trò lười biếng và hoang nghịch như tôi lại có thể đến nhà Thầy xin hái đào để ăn và chặt trúc về làm cần câu.

 

 

 

Khoảng gần 5 năm không được đến trường, lại không có cơ hội tự học, tôi cũng gần như quên chữ nghĩa đã học được trong mấy năm đầu đời. Quả vậy, tôi đã không vượt qua được cuộc sát hạch đơn giản vào lớp 4 ( Lớp Nhì ) trường Tiểu học Đà Nẵng.
Đang phân vân không biết sẽ xin học trường tư thục nào đây, và xin vào cấp lớp nào. Chẳng lẽ đã hơn 16 tuổi đầu lại xin học lại lớp Ba! Mặt khác, học phí cho bậc tiểu học thời bấy giờ không lấy gì làm lớn lắm, nhưng cũng là một vấn đề đối với tôi.

Tôi không nhớ ai đã chỉ cho tôi đi học chui tại chùa Bát Nhã, với học phí hàng tháng rất thấp. Tôi gọi học chui vì trường không có tên và lẽ dĩ nhiên là không có giấy phép, do thầy Trình đảm trách. Một phòng, hình vuông mỗi bề khoảng 5 mét, chỉ có ba bức tường, không cửa, dưới gốc hai cội bàng, trong khuôn viên Chùa Bát Nhã, dung làm phòng học chung cho hai lớp Nhì và Nhất là toàn bộ cơ ngơi Trường Thầy Trình.
Thầy Trình, khoảng trên hai mươi, cũng bị gián đoạn việc học nhiều năm, hỏng kỳ thi Trung học Đệ nhất cấp vừa rồi, mở lớp dạy học để mưu sinh, và chuẩn bị lại cho kỳ thi năm tới.

Cả hai lớp Nhì và lớp Nhất cộng lại được khoảng gần 20 học sinh, đa số đều học trễ bởi nhiều lý do khác nhau. Người nhỏ nhất cũng 12, 13 tuổi, tức cũng đã học trễ vài ba năm. Tôi 16 tuổi, học lớp 4, tức chậm mất 6,7 năm. Có vài ba bạn chỉ kém tôi một hai tuổi, vì vậy tôi cảm thấy có phần dễ chịu. Ngay thầy tôi đã trên hai mươi, vẫn đang học, mà chưa qua lớp 9.

Phòng có hai dãy bàn, dãy ngoài dành cho lớp Nhất và dãy trong dành cho lớp Nhì. Thầy cho đề toán lớp Nhất xong, lại đọc chính tả cho lớp Nhì; và khi ra đề luận cho lớp Nhì làm tại lớp, thầy lại dạy sử ký địa dư cho lớp Nhất. Theo cách sắp xếp như thế, thầy có thể dạy một lúc hai lớp không mấy khó khăn.

Qua vài tháng đầu bỡ ngỡ, tôi bắt đầu thấy dễ dàng trong lớp học của mình. Nhiều lần sau khi nhanh chóng làm bài của mình, tôi đã có thể làm bài của lớp Nhất, đặc biệt là toán và luận. Bắt đầu nửa năm sau, không có bạn nào trong lớp Nhất làm toán nhanh bằng tôi.
Một thời gian sau, thầy Trình biết tôi đã làm được bài của lớp Nhất và bấy giờ cũng là thời điểm chuẩn bị hồ sơ nộp đơn thi lấy Bằng Tiểu Học.

Một buổi chiều vào giờ tan học, thầy Trình gọi riêng tôi, thầy nói: “Thầy nhận thấy em có đủ khả năng thi Tiểu học. Nếu em muốn thi năm nay, về nhà xin 120 đồng để mua chứng chỉ lớp Nhất”. Thầy sẽ giúp em nộp đơn”.

Nghe lời Thầy khuyên, tôi về xin tiền và một tuần sau đem đến lớp cho Thầy. Vì lớp học chui, không có học bạ chứng chỉ gì cả, nên Thầy phải mua các giấy tờ này của các trường tư thục hợp lệ khác cho học trò của mình!

Như vậy, hai tháng sau cùng của năm học, tôi được học theo lớp Nhất. Thầy hướng dẫn tôi học thêm, tại nhà, các môn phụ như Sử ký, Địa dư, Cách trí, Công dân giáo dục… để chuẩn bị cho kỳ thi.
Có lẽ vì kém Pháp văn và Anh văn nên Thầy đã hỏng kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp năm rồi, chứ Thầy dạy rất tốt. Giảng giải bài cho học sinh rõ ràng mạch lạc đâu ra đó, đặc biệt Thầy rất tận tâm. Hình như Thầy đã có khá nhiều kinh nghiệm dạy học.

Đám học trò lớn tuổi chúng tôi, đa số mất căn bản vì bị bỏ học lâu năm, hoặc có bạn sống ở những vùng xôi đậu, ngày học ngày nghỉ, nên cũng chẳng thu thập được gì.

Với sự tận tâm của thầy Trình, sau một năm học, tất cả chúng tôi đã trở thành học sinh loại khá. Kỳ thi Tiểu học năm đó, tất cả 9, 10 đứa lớp Nhất chúng tôi đều đỗ. Kỳ thi tuyển vào lớp Đệ thất Trường Phan Châu Trinh năm đó nhận vào 120 học sinh, trong số khoảng một ngàn thí sinh dự thi. Thế mà lớp học của thầy Trình, chỉ có 10 học sinh, đã lọt vào được 6 em, bao gồm cả Thủ khoa là tôi.

Nhờ kết quả trên, những năm sau đó, lớp học của thầy Trình đông học trò hơn nhiều, đặc biệt là lớp luyện thi đệ thất trong mùa Hè.
Những bạn không vào được Phan Châu Trinh, có tiếp tục đi học nữa không, tôi không nhớ, vì chỉ mấy năm sau là tôi không có cơ hội gặp lại họ.
Nhóm sáu học trò thầy Trình vào Phan Châu Trinh được phân ra trong 2 lớp đệ thất. Tuấn, Thế, và tôi thuộc lớp đệ thất B1. Báu, Đỗng, và một bạn tôi quên tên, thuộc B2.

Vào Phan Châu Trinh năm đó cũng có một số bạn xấp xỉ tuổi tôi, và cũng có vài bạn hơn tôi một tuổi. Chung chung, tôi hơn phần lớn các bạn cùng lớp 3 tuổi, và hơn các bạn trẻ nhất lớp đến 6 tuổi.
Ngoài một số bạn mới xấp xỉ tuổi trong lớp, tôi vẫn có mối liên hệ thâm tình với các đồng môn Trường Chùa, đặc biệt là Báu, Thế và Tuấn.

Học trễ nhiều năm, các đồng môn Chùa của tôi đều xấp xỉ đôi mươi khi lấy được bằng Trung học Đệ nhất cấp. Với tuổi lớn như vậy, chúng tôi, hầu hết, tìm vào các ngành chuyên môn như Cán Sự Y Tế, Quốc gia Thương Mại, hay ngắn hạn hơn nữa là Sư Phạm Cấp Tốc, chỉ học 8 tháng là xong.

Tuấn, Thế, và tôi nộp đơn thi vào Sư Phạm Cấp Tốc; Đỗng đi vào quân đội thì phải, tôi không nhớ rõ lắm; Báu tiếp tục học lên đệ nhị cấp; ông bạn quên tên biến đâu mất, chắc là vào bưng! À, tôi nhớ ra rồi, anh ta tên Chánh.

Thi vào các ngành chuyên môn không phải dễ, thuộc loại khá và phải ôn bài vở cẩn thận mới được, vì số thí sinh luôn gấp từ 4 đến 10 lần số dự tuyển. Cũng như các bạn khác, tôi ôn bài vở cẩn thận để nắm phần chắc trúng tuyển, mặc dù trong đám bạn thân rủ nhau đi thi, tôi là đứa trội nhất.

Kỳ thi được tổ chức tại Huế. Nhiều bạn đã ra Huế vài hôm trước ngày thi. Tôi và vài bạn khác sẽ đáp chuyến tàu suốt từ Sài gòn ra, đến ga Đà Nẵng khoảng 6: 15 chiều mỗi ngày. Các bạn đã đến chờ ớ sân ga, riêng tôi nằm đọc truyện rồi ngủ quên lúc nào không hay. Được đánh thức bởi tiềng còi tàu kéo dài khi sắp dừng, tôi vội vàng nhờ người đèo bằng xe đạp lên Ga, nhưng thôi rồi, chưa kịp bước vào cửa nhà ga, tàu đã chuyển bánh, các bạn tôi nhoài người ra vẫy, tôi đâu có cánh để bay theo! Lại trễ một chuyến tàu!


Kỳ thi đó, các bạn tôi đều trúng tuyển. Một năm sau, đã trở thành các ông Hiệu trưởng các trường tiểu học ngoại ô Đà Nẵng.
Lương giáo viên, tốt nghiệp Sư Phạm Cấp Tốc, 4700 đồng tháng, cộng thêm 500 đồng phụ cấp chức vụ Hiệu Trưởng. Số tiền 5000 đồng/ tháng thời bấy giờ thật lớn, có thể nuôi sống khá đầy đủ một gia đình 6 người.

Trễ tàu làm thầy, đành tiếp tục làm trò vậy. Thế là nhóm bạn Chùa còn lại tôi và Báu tiếp tục học đệ tam. Báu theo ban A ( Ban Khoa học thực nghiệm ), tôi theo ban B ( Ban khoa học Toán ). Sau khi lấy bằng Tú Tài phần I, chúng tôi được chuyển ra trường Quốc Học- Huế.
Tôi được xếp vào lớp Đệ nhất B-1, thời gian này học khá căng. Ban B phải học đến 7 môn Toán, Lý Hóa cũng nặng nề; Anh, Pháp, và Triết học đều là các bộ môn phải thi viết. Hình như trong thời gian này tôi rất ít gặp Báu.

Sau khi hoàn tất Tú Tài II, mỗi đứa mỗi đường kiếm sống. Rồi tôi lại theo Đại học, Báu vào quân ngũ. Báu phục vụ tại Đà Nẵng, tôi chuyển vào miền nam. Không gặp từ năm 1961, cho đến mãi cách đây 3 năm, hai đứa mới gặp nhau lại.

Khoảng cuối năm 1998, tôi có ý định tìm lại bạn bè cũ. Hai nhóm tôi đặc biệt tìm kiếm là nhóm bạn cùng cấp lớp thời Trung học Phan Châu Trinh, và nhóm đồng nghiệp và học trò củ của Nông Lâm Súc Bảo Lộc.
Đến năm 2000, lần đầu tiên trở lại Việt nam, có cơ hội gặp lại một số bạn bè cũ trong hai nhóm, tôi lại biết thêm một ít bạn ở nước ngoài. Cứ tìm ra một bạn, thường qua bạn đó sẽ biết thêm vài bạn nữa. Những lần về Việt nam về sau cũng bổ sung thêm được một số người trong danh sách tìm kiếm.

Đến năm 2006, nhóm cùng lớp Phan Châu Trinh chúng tôi đã lập được một danh sách khoảng 60 bạn, gọi là nhóm PCT5460 (Chúng tôi vào trường 1954 và ra trường 1960), và  "Tụ Nghĩa Đường" được đặt tại nhà anh chị Diệm-Hồng ở Garden Grove.

Tụ Nghĩa Đường- PCT5460


Riêng nhóm bạn Chùa 6 mống, đã biến đâu mất hết 3 mống trước 75, chỉ còn lại Tuấn, Báu, và tôi. Năm 2000, tôi đã gặp Tuấn ở Đà Nẵng, nhưng trước đó tôi đã liên lạc được với cậu ta bằng thư. Tôi có hỏi một ít bạn ở Đà Nẵng về Báu, không ai biết anh ta ở đâu?
Từ cuối năm 2005, nhóm PCT5460 gặp gỡ nhau thường xuyên hơn. Nhiều lần tôi nhắc đến Báu và mong bạn bè thăm dò tin tức anh ta. Nhắc đến Báu, cánh đàn ông chúng tôi nhớ lại anh ta không mấy khó khăn, vì bao năm liền anh ta giữ chân hậu vệ trong đội bóng tròn của trường.

Những bạn nào thường ra sân ủng hộ đội nhà đều biết, đối phương, không dễ gì qua được rào cản của Sung Lò rèn và Báu Thạch Thang. Đặc biệt Báu chạy như ngựa  đua và hình như không biết mệt.

Đầu năm 2007, một cơ may đến với tôi và nhóm PCT5460. Một người bạn cùng lớp, anh Đồ Bàn, từ nam Cali lên dự tiệc cưới con của một người bạn ở bắc Cali. Không biết vì tình cờ hay vì cùng là dân Đà Nẵng, và tuổi suýt soát nhau, lại là dân nhà binh thứ thiệt, hai ông bạn Đồ Bàn và Báu được xếp chung một bàn.

Lúc đầu hai cậu cũng chẳng nhận ra được nhau. Cách nhau đã 50 năm, khó mà nhận ra nhau ngay, đặc biệt là trong hoàn cảnh bất ngờ như thế này. Hình ảnh hai cậu thanh niên đôi mươi đâu còn lại mấy dấu tích trên hai ông già thất thập.
Nhờ chuyện trò qua lại của hai cậu và các vị chung bàn, anh Đồ Bàn có nhiều lý do để nghĩ rằng ông bạn Báu cùng bàn chính là Nguyễn Văn Báu, tay hậu vệ cừ khôi, và là người bạn cùng lớp mà lâu nay chúng tôi đi tìm.

Khi hỏi ra là đúng chóc là Báu Thạch Thang, thành viên PCT5460, đồng môn Chùa của tôi. Sau bữa tiệc, Đồ Bàn gọi điện báo cho tôi ngay, vì biết tôi rất mừng khi được tin Báu đang sinh sống tại Mỹ.
Qua số phone của Đồ Bàn cho, tôi gọi cho Báu. Chúng tôi nhận ra nhau ngay. Những kỷ niệm của hai đứa hồi còn là đồng môn chùa Bát Nhã vẫn in đậm trong ký ức chúng tôi.

Thật buồn cười, Báu ở San Jose lâu lắm rồi, thế mà ở đó còn có ba bạn cùng lớp mà bao nhiêu năm rồi anh ta không biết. Ba anh kia  đã gặp nhau nhiều lần và có lẽ cũng đã gặp Báu nhưng không nhận ra nhau.

Sau khi bắt được liên lạc lại với Báu, tôi lại làm công việc nối kết 4 cậu lại với nhau. Và mấy tuần sau một Hội lẫu (không phải Hội vườn đào đâu!) được triệu tập tại nhà Báu với khách tham dự là Đốc sự Trác, Nha sĩ Tô, và Hạm trưởng Huệ. Không nói các bạn cũng biết không khí hào hứng như thế nào rồi!

Huệ- Trạc- Tô- Báu

 

Tuy đã được nói chuyện nhiều lần qua phone, và cũng được xem hình của nhau và gia đình qua E-mail, tôi vẫn ao ước có dịp nào đó đến thăm bạn. Báu mời vợ chồng tôi lưu lại nhà của vợ chồng Báu khi có dịp ghé San Jose.

 Báu  & Lục

 

Không bao lâu sau đó, cơ hội thăm vợ chồng Báu đã đến. Tháng 7 năm 2007, cựu học sinh Nông Lâm Súc Bảo Lộc tổ chức họp mặt tại San Jose. Tôi báo cho Báu ngày tôi đến, và vợ chồng bạn ấy đã ra phi trường đón tôi về. Không gì vui bằng, những người bạn gặp lại nhau sau gần 50 năm, nhất là đối với những người xa quê hương.
Và nhờ cuộc Hội Ngộ sau gần 50 năm của hai người bạn trường Chua mà có Giai thoại 5000 đô.

Hết phần I.
Vui lòng đón xem tiếp Phần II: Giai thoại 5000 đô

Gurnee Aug 28 2010
Lục Phan