Hai chú Trường, Giang, và tôi đã sắp xếp để cùng gặp nhau tại Việt Nam. Chú Trường từ Brisbane qua Việt Nam trước, chú Giang từ Pert về Sài Gòn trước tôi chỉ mấy tiếng đồng hồ. Tối hôm nay hai chú ấy sẽ đến phi trường đón gia đình tôi.

Vì biết có có bạn đến đón, nên khi sắp bước ra khỏi cổng, tôi đã đảo mắt một vòng tìm kiếm, nhưng chưa nhìn thấy ai. Bước thêm vài bước nữa, tôi nghe được tiếng gọi của chú Trường. Hương về phía tiếng gọi và thấy ngay hai chú Trường và Giang.

Xa cách nhau khá lâu, gặp lại nhau quá vui, và khi quá vui không biết phải nói gì nữa. Ba anh em chúng tôi ôm nhau, và chúng tôi tự hiểu với nhau là niềm mong muốn lúc sắp chia tay  ở Trại Tỵ Nạn năm nào, mỗi đứa đi một phương trời: một ngày nào đó, khi gian khổ đã qua, ba anh em sẽ tìm cơ hội để gặp nhau, ít nhất là một lần, trên trên quê hương mình càng tốt. Không hiểu sao, mà mãi đến 33 năm sau, niềm mong ước đó mới thực hiện được.

Như được sắp xếp trước, chú Trường đã chuẩn bị cho gia đình chúng tôi một chiếc xe 16 chỗ ngồi. Sau khi đưa người và hành lý lên xe, tôi nán lại nói chuyện với chú Giang thêm khoảng 10 phút, rồi lên xe cùng với gia đình về khách sạn. Chú Trường theo xe với chúng tôi. Tại khách sạn, tôi lại có dịp tiếp tục trò chuyện với chú Trường trong khi chờ các cháu hoàn tất thủ tục nhận phòng.

Tạm từ giả nhau, tài xế đưa chú Trường về khách sạn của chú ấy, và chúng tôi đi nhận phòng để nghỉ ngơi sau một chuyến bay dẹi. Khi tiển chú Trường ra xe, chúng tôi hen  gặp lại ngày mai. Thời gian và địa điểm do hai chú sắp xếp.
Được biết chú Trường sẽ trở lại Úc sáng ngày 12, và cũng sáng hôm đó tôi sẽ đáp máy bay, cùng với các cháu, ra Đà Nẵng. Như vậy, ba anh em chúng tôi chỉ có hai ngày 10 và 11 tháng 6 để đàn đúm, chè chén, tâm sự với nhau thôi.
Tối mồng 9 khi về khách sạn, tôi chỉ tắm rồi nằm nghỉ thôi chứ đâu ngủ ngáy gì được, vì lúc nầy là buổi trưa bên Mỹ. Từ lâu, tôi không có thói quen ngủ trưa.


Nằm thao thức, đầu óc nghĩ lung bung từ chuyện nầy qua chuyện khác. Tất cả ký ức hiện về như một cuốn phim thời sự. Đậm nét nhất, là những gì đã xẫy ra thời gian năm 75 về sau.
Ngày ấy, gia đình bé nhỏ của chúng tôi, gồm hai vợ chồng và 3 con nhỏ đang sống yên lành ở một tỉnh nhỏ, rất xa vùng đô hội Saigon. Chúng tôi yêu thích cảnh hoang vắng, vui lòng đánh đổi nhiều tiện nghi để được sống trong không khí trong lành của đồi núi thiên nhiên. Chúng tôi rất an phận, và chưa hề nghĩ đến chuyện rời Bảo Lộc. Một cuộc sống bình dị nhưng rất hạnh phúc.


Nhưng rồi, một buổi sáng của tháng tư, sau nổi bàng hoàng đến điến người, mọi chuyện đã bị đảo ngược, và hoàn toàn sụp đổ! Gia đình lâm ngay vào túng quẩn, an ninh bì thường xuyên đe dọa, và phẩm giò con người cũng bị bôi đen. Ngày ngày phải sống trong một bầu không khí hết sức ngột ngạt. Mười ba lá bài trên tay, xoay trở mãi chả biết binh đường nào.
Rồi năm năm đã trôi qua trong đường hầm tối đen, vẫn chưa thấy được một đốm sáng le lói nào. Tương lai, các con tôi sẽ ra sao đây? Không một chút hy vọng ở ngày mai. Cứ nhìn vào đường lối, chính sách của đảng và nhà nước là biết ngay. Cả mấy chục triệu người ngở ngàng và chua xót, nhưng tất cả đã bị đeo thòng lọng vào cổ, không còn đường cụ cựa.

Mọi người, để giữ mạng sống của mình, đều phải giả ngây giả dại, ngày ngày ngồi nghe thằng ngu dạy mình! Điều hết sức bi đát là phải cố đóng trò, rất yêu chế độ, sao cho thật khéo.
Việc trước mắt là phải sống, lẻ nào ngồi khoanh tay chịu chết.
Một mặt thi phải đóng vai thằng ngu để may ra được yên thân, mặt khác phải tìm cách nuôi sống gia đình. Việc gì có thể làm đều không từ nan: từ việc đi làm cỏ trà mướn cho người ta, đến cuốc đất trồng khoai, nuôi heo, cho đến viêc buôn bán chợ trời, rồi sản xuất xà-phòng đóng bao đem đi bỏ mối. Hết việc nầy, xoay việc khác, cả hai vợ chồng hết sức vất vả.


Vì không đủ tài năng ứng phó với một xã hội bất bình thường, và đầy khắt nghiệt như xã hội Việt Nam thời bây giờ, nên mặc dù đã cố xoay xở hết sức mà cũng không sống được!
Vật chất đã là thế, các mặt khác còn tệ hơn. Vì biết mình sống không hộ khẩu, công an khu vực thường xuyên ‘hỏi thăm’. Đã không có tiền mua gạo cho con ăn, mà phải đem tiền ‘đi mua’ giấy phép tạm trú. Bản thân là nhà giáo, mà con mình lại phải đi học chui, cũng vì không có hộ khẩu, và là con của "Ngụy"!
Đang học cấp tiểu học đã bị bạc đải như thế rồi, mong chi đi học Đại Học!


Con người đến đường cùng trở nên liều lĩnh. Phải tự cứu mình, nhất là đối với thế hệ con cái. Chúng có tội tình gì mà bị đặt vào hoàn cảnh hoàn toàn bất lợi, trong một xã hội mà mọi người được nắm gọn trong tay của bọn công an, mệnh danh là công an nhân dân, nhưng thực chất là những kẻ hành dân và hại dân.


Bằng mọi giá, phải thoát ra khỏi cái nhà tù u tối, với những cai tù vừa tham lam, vừa độc ác, lại vừa ngu dốt nầy. Xu thế của thời đại  cho thấy nhà tù nầy còn tồn tại lâu dài, vậy chỉ con cách vượt ra khỏi nhà tù!
Bao nhiêu chuyến đi không thành, nhưng vẫn tiếp tục, “thua keo nầy bày keo khác". Lực gần như đã tận, mà vẫn chưa thoát ra được. May nhờ những tấm lòng thật rộng lượng tiếp sức, nhưng rồi cũng không thành công.


Cuối cùng 3 anh em tìm đến với nhau, đồng cam cộng khổ, tự biên tự diễn, kéo dài gần một năm rưỡi chờ thời cơ. Mọi niềm hy vọng của 3 gia đình đều được đặt hết vào con tàu gổ mong manh , dài 9 mét, với một động cơ 10 mã lực. Và thời gian quyết định thoát khỏi nhà tù lớn đã điểm, chuyến đi được khởi hành đêm mông 3 tháng 11 năm 1982 tại cửa Vũng Tàu.

Ra khơi chưa được một ngày, không may gặp sóng to gió lớn quần suốt một ngày một đêm. Trong hoàn cảnh nầy, một trong 3 điều có thể xẫy ra: quay vào bờ để được đón vào nhà tù nhỏ, nhưng giữ được mạng sống; tiếp tục đi, có thể đạt được ý nguyện hay vùi thân đáy biển. Chúng tôi đã cùng nhau chọn lựa điều sau, và may mắn cả 3 gia đình cùng một số bạn bè đã đến được bến bờ tự do. Đó là ngày 9 tháng 11 năm 1982.

Sống chung với nhau được mấy tháng ở trại ty nạn, hai chú ấy được định cư ở Úc trước. Gia đình chú Trường được đưa đến Brisbane ở phía đông, và gia đình chú Giang lại được đưa về Pert, ở cực tây của Úc. Một năm sau, gia đình tôi mới được cho định cư tại Illinois, một tiểu bang thuộc miền Bắc của Mỹ.

Vậy là ba anh em ở ba nơi rất rất xa nhau. Lúc đầu cũng ít gọi phone cho nhau, vì tiền phone viễn liên lúc đó đối với chúng tôi cũng là một số tiền không nhỏ so với thu nhập của mình. Lúc bấy giờ chưa có những cách gọi miễn phí như hiện nay.


Ơ Úc đời sống dể chịu, đăc biệt đối với người tỵ nạn được giúp đở rất chu đáo, vì thế, gia đình các chu thích ứng rất nhanh với cuộc sống mới. Trong khi gia đình các chú đã có một cuộc sống rất dể chịu, thì ở Mỹ, gia đình chúng tôi đang phải rất vất vả xây dựng cơ bản.

Đới sống ở Mỹ có nhiều thúc bách, mọi người phải cố gắng làm việc hết mình để xây dưng cuộc sống tốt cho tương lai. Một là xông pha làm ăn, lấy những lần thất bại làm bài học xương máu để đạt thành công về sau, con đường nầy nhiều vất vả nhưng có cơ hội thành công lớn; cách thứ hai là con đường học vấn, học đàng hoàng thế nào cũng tạo được cho mình một cuộc sống tương đối vững vàng. Gia đình chúng tôi theo con đường thứ hai, và khoảng 7 năm sau, chúng tôi mới bắt đầu thơ thới dần.
Tôi nhớ chừng như năm 2001 thì phải, chú Trường có ghé qua nhà tôi ( ILLinois) ngủ lại một đêm, trong chuyến đi thăm gia đình ở Boston, và một số thành phố khác ở Hoa Kỳ.
Năm 2013, chú Giang cũng có ghé thăm và ngủ lại nhà tôi (California) một đêm, trong chuyến vợ chông chú đi Đức cưới vợ cho cháu Pho.
Thế nhưng 3 anh em cùng gặp nhau như mong ước, lần đâu tiên thực hiện được là đêm 9 tháng 6 năm 2016, tại phi trường Tân Sơn Nhất.

Trong khi đầu óc quay về với quá khứ, thời gian tiếp tục qua nhanh, chưa kịp chớp mắt đã 6 giờ sáng, thế là một đêm thức trắng trên quê hương.
Không biết phải làm gì nên lại muốn chơi với Laptop. Trước hết muốn xem tin tức vài ngày qua có gì lạ. Những báo online tôi đọc hằng ngày là BBC, RFA, RFI, VOA, Dan Trí. Một số đã bị tường lửa không vào được, chính cái Gia Trang tầm thường của tôi mà cũng bị chận. Lại vào Google học cách vượt tường lửa. Qua tường lửa dổm cũng không khò gì.
Tin tức chẳng có gì mới ngoài việc dân chúng hoang mang và phẩn nộ về hiện tượng ‘cá chết dọc bờ biển 4 tỉnh miền trung’, và Tòa trọng tài của Liên Hiệp Quốc sắp tuyên bố phán quyết về vụ kiện Trung Quốc của Phi Luật Tân, liên quan đến ‘đường lưỡi bò’.

Khoảng 7 giờ sáng, trong khi các cháu đang còn ngủ, vợ chồng tôi lại lục đục đi ăn sáng. Thức ăn sáng khá đa dạng và tạm được, phục vụ tốt. Mỗi bửa ăn sáng giá 35 đô (khoảng gần 700 ngàn đồng), đối với Việt Nam là mắc.
Khoảng 11 giờ trưa, ba anh em chúng tôi gặp nhau tại nhà hàng của cháu Duy ( con trai của anh Đỗ Văn Quang) ở đường Hồ Tùng Mậu. Tôi có nhăn thêm chú Phan Quang Định, và chú Định lại gọi em Bùi Thị Lợi, và em Lợi đón anh Châu Kim Lang.
Bửa họp mặt trở nên đông vui, cả Duy nữa là 8 người. Xem đây là buổi hội ngộ chính thức của hai chú Trường, Giang và vợ chồng tôi, được sự góp mặt chia vui của 4 vị khác là cháu Duy, chú Định, em Lợi và thầy Châu Kim Lang.
Tuy ở xa nhưng chúng tôi biết khá rõ cuộc sống của nhau, do chuyện trò qua phone, vì vậy, chỉ hỏi thăm nhau về sức khỏe. Trái lại, tôi lại có dịp nói chuyện nhiều với anh Châu Kim Lang và chú Định.
Bửa tiệc kéo dài gần 3 giờ đồng hồ, chúng tôi chia tay, và hẹn gặp lại khoảng 6-7 giờ chiều nay ở đâu đó, do Tăng Ngọc Hiệp khoảng đãi. Chú Đình theo tôi về về khách sạn nghỉ ngơi vài giờ lấy sức để còn tiếp tục chiến đấu chiêu nay.
Đến khoảng 5 giờ, chú Trường cho tôi biết tiệc bắt đầu lúc 6:30PM tại Quán Đông Hồ, số 199, trên đường Cao Thắngnối dài.
Đúng 6 giờ, vợ chồng tôi và chú Định dùng Taxi đi đến điểm hẹn. Đến nơi thấy ông bạn Hồ Phước Hải đã đến trước, và đang ngồi chờ ở cổng. Không thấy người chủ xị đâu cả nên chúng tôi không biết làm gì khác hơn là cùng ngồi chờ ở cổng.
Chờ khoảng 20 phút không thấy ai đón, tôi nghĩ có gì bất thường chăng, hay chúng tôi đến sai đia chỉ. Quả thật là đến sai địa chỉ. Đúng là quán Đông Hồ, nhưng là Đông Hồ 1 mà chúng tôi lại đến Đông Hồ 2. May nhờ chủ quán cho biết, nếu không có lẻ anh em chúng tôi xách xe không!
Đến nơi, đã thấy có mấy bà con phe ta đã vây bàn rồi, nhưng vẫn chưa thấy chủ xị. Ngoài tôi và ba chú Trường, Giang, Định, thấy có mặt thầy Châu Kim Lang, kỹ sư Lai Minh, vợ chồng Hữu Minh, Hồ Phước Hải, chị Hiển vợ Quang. Số người tạm đủ cho hai bàn.
Bây giờ tôi mới thấy đặc điềm tiệc nhậu Việt Nam, cứ từ từ hàng hàng lớp lớp tiến lên. Nhà hàng vừa đem ra mấy món ăn chơi, một tốp 4,5 người khách lại đến. Số khách nầy tôi không rõ liên hệ như thế nào, nhưng chắc cũng chỗ quen biết. Không đủ chỗ ngồi, lại phải nối thêm bàn. Chưa xong, lại có khách tới tiếp. Không còn chỗ để nối bàn, phải di chuyển vị trí. Đến vị trí mới chưa được bao lâu, lại có khách đổ về, lại nối thêm bàn! Kiểu tiệc mời như thế nầy, vui thì có vui, nhưng hơi chóng mặt! Cuối cùng bàn tiệc rất đông, và hết sức lộn xộn. Mình tưởng lâu ngày mới có dịp để bạn bè trò chuyện thăm hỏi nhau, đâu ngờ tiệc mời gì mà lạ lùng vậy. Ba anh em tôi chỉ có 3 buổi họp mặt, quả thật đã phí đi một buổi tối quí giá!
Không biết buổi tiệc còn kéo dài bao lâu nữa, riêng vợ chồng tôi cần nghỉ ngơi chút ít nên đã cám ơn em Hiệp, và xin phép về sớm. Thế là ngày họp mặt thứ nhất đã qua, chỉ còn một ngày mai ngắn ngủi nữa mà thôi.
Một ngày trôi qua khá mệt nhọc, tôi cố gắng dổ giấc ngủ để còn tiếp tục chiến đấu ngày mai. Vẫn khó ngủ, cho đến khoảng 2 giờ đêm giấc ngủ mới đến, và kéo dài cho đến 6 giờ sáng. Cảm thấy khỏe khoắn, tôi mở Laptop đọc báo online, và upload vài tấm hình lên Facebook.
Sau khi tắm, tôi ngâm mình trong bồn nước nóng khoảng 20 phút, người trở nên khoan khoái, và càm thấy đới bụng. Tôi cùng bà chủ đi xuống ăn sáng, trong khi lủ trẻ đang còn ngủ. Có lẻ bửa ăn sáng hôm nay, tôi đã ‘nhập khẩu’ một số lượng thức ăn bằng ba lần bình thường. Với thức ăn ở đây, tôi ăn bao nhiêu cũng không hết 35 đô!
Chúng tôi rời nhà hàng, gặp ngay chú Trường. Chú ấy đã chờ ở Lobby khoảng 10 phút, và định gọi phone cho chúng tôi. Chú đến thăm và luôn thể cho biết địa điểm họp mặt trưa hôm nay.
Hôm nay chú Trường làm chủ xị, địa điểm họp mặt là Quán Cơm Niêu, 27 Tú Xương, thuộc quận 3. Hiện diện ngoài 3 ‘ đồng rận’ chúng tôi, còn có Định, Hữu Minh, Lai Minh, Vợ chồng Hiệp, và cháu Hường con của Quang. Buổi tiệc hôm nay tương đối đầm ấm, chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện vui vẻ.
Tôi nhớ không rõ, nhưng hình như buổi tiệc bắt đầu khá trể, lại kéo dài gần 3 tiếng đồng hồ, nên khi buổi tiệc sắp tàn, chú Giang muốn chúng tôi kéo nhau về nhà vợ chồng Hữu Minh, để được chú thiếc đãi thịt bò và rượu từ Úc đem qua. Bảo đảm của thật, chánh hiệu con Rồng Vàng.
Một mặc cùng cũng mệt lắm rồi, lại phần nhà vự chồng chú Minh khá xa, nên mọi người đã từ chối.
Thế là chấm dứt hai ngày họp mặt giữa ‘3 đồng rận’ chúng tôi. Tuy ngắn ngủi, nhưng cũng thực hiện được lòng mong muốn. Thực ra, nếu hai chú Trường và Giang không cố gắng sắp xếp, từ Úc bay về Việt Nam để hội ngộ với vợ chồng tôi, thì điều mong ước kia lại phải chờ …, và không biết có cơ hội thực hiện hay không.
Tại nơi đây tôi xin cám ơn hai chú Trường và Giang, đã hết lòng làm cho điều mong ước của 3 anh em mình thành hiện thực.
Sáng sớm ngày mai chú Trường đáp máy bay về Brisbane, và tôi theo các cháu ra Đà Nẵng.
Ở lại Đà Nẵng chỉ hơn một ngày để gặp bạn bè thủa học trò, và sau đó sẽ đi Huế để thực hiện điều mong ước thứ hai.

(Hết Phần I)