Bỏ nước ra đi, không đô-la, không vòng vàng đá qui. Bước đầu đến được chân trời tự do, có ý nghĩ giữ một vài vật tầm thường, nhưng là vật chứng cho một hành trình gian nan, làm kỹ niệm. Có ba vật tôi muốn, nhưng cuối cùng một vật duy nhất giữ được, cho đến ngày đặt được chận xuống đất Mỹ, là chiết áo bà ba màu nâu.

Vật thứ nhất là một cái cốc nhỏ bằng nhựa mầu vàng.

Tất cả 48 thành viên của con tàu mang số hiệu PB738 ( Số hiệu của Malaysia) không thể nào quên cái cốc nầy được. Vì lượng nước mang theo rất hạn chế, mà số người lại tăng lên ( canh me ), nên ngay từ đầu phải hạn chế khẩu phần nước. Mỗi ngày 2 lần, sáng và chiều, mỗi người được phân chia một cốc nước chanh đường kèm nửa xác quả chanh. Mọi người ngồi yên tại chỗ, nhóm phân phối tuần tự chuyển đến từng người băng cái cốc nhựa màu vàng đó. Như vậy, mỗi người ít nhất đã cầm cái cốc ấy trong tay 12 lần trong chuyến đi gian nan nhiều mà may mắn cũng nhiều.
Các bạn thử nghĩ, ngồi dưới hầm tàu vừa nóng vừa chật chội, thế mà phải chờ từ sáng sớm cho đến chiều tối mới được uống một cốc nước chanh khoảng 70ml. Phải ngón lắm, ngon như chưa bao giờ được thưởng thức trong đời! Mỗi khi cái cốc màu vàng đến tay, không phải là niềm hạnh phúc hay sao.
Khi tàu tấp vào một bãi cạn ở Kuantan, phải rời thuyền cấp tốc, ngày mai trở lại cái ly nhựa đã trôi dạt mất rồi.

 

Vật thứ hai là cái áo bà ba màu nâu.

Đó là cái ao của bà xã tôi mặc trong người, và là cái áo duy nhất mang theo. Nguồn gốc cái áo cũng khá ly kỳ. Nguyên là vợ chú Long trong một chuyến đi buôn Hà Nội đã sắm cái áo đó. Có lẻ hơi chật hay sao đó mà đem biếu bà xã tôi. Khi mặc vào, qua kính, bà xã tôi nhận thấy mình khá giống các cô gái quê, nên nẫy ý định để dành mặc khi đi vượt biên.
Chỉ một cái áo trên người, gần 10 ngày sau mới có điều kiện thay khi được đưa đến đảo Paolau Bidong.
Tuy rằng đã có những áo quần củ của trại phát, nhưng cái áo bà ba nâu ấy là thích hợp nhất. Toàn áo đầm quần tây củ, kích cở quá khổ của các ông tây bà đầm, mình chỉ xin về làm mền thì được, chứ làm sao mặc. Nhiều bạn trai trẻ, những tuần đầu mới đến trại, phải mặc áo đầm.
Đa số người đến đảo chỉ một bộ áo quần duy nhất trên mình. Một số người, không rõ lý do, khi đến đảo chỉ có quần không có áo.
Sau khi ở đảo được khoảng một tháng, nhiều người đã dùng áo quần củ để may lại những bộ áo quần tươm tất hơn. Người nào có mang theo chut ít tiền, hay thân nhân ở nước ngoài hổ trợ, lại mua áo quần khá hơn. Bằng cách nầy hay cách khác, ngày rời đảo trông không còn tơi tả như ngày mới đến.
Cái áo bà ba nâu đã theo bà xã tôi từ Biddong qua Sungei BC, rồi theo tới Bataan, và cuối cùng là đến Mỹ. Tôi dự tính nhờ người trang trí trong một khung hình lớn.

Vật thứ ba là cây ‘Cardan shafl” gảy
Đây là dấu hiệu cho thấy, rất nhiều lý do dẫn đến cái chết cho thuyền nhân. Bao nhiêu bất trắc rập rình, không biết lúc nào xẫy ra.
Trong chuyến đi, vào nửa đêm của ngày thứ 5, đã thấy được trụ antene cạnh bờ biển Mã Lai. Chúng tôi quyết định neo lững thuyền lại qua đêm. Độ sâu khoảng 7-8 mét, và sáng hôm sau thuyền đã dạt vào sát bờ, thấy được người đi bộ. Vì không muốn tấp vào Mã-Lai, chúng tôi tiếp tục chạy kẹp bờ, xuôi nam, hy vọng đến được Singapore. Đền khoảng trưa, trục cardan bị gảy lìa khi thuyền chạm nhẹ vào một dây ‘cable’.


Tuy là biển, nhưng lúc bấy giờ còn êm hơn sông, nên việc thay thế cardan không có gì khó. Hai trai trẻ lăn xuống nước, và hai người khoẻ mạnh đứng sau lái, trong vòng 10 phút đã thay xong Cardan. Những thao tác nầy đã được luyện tập ít lần trong thơi gian chuẩn bị cho chuyến đi. Thế là thuyền lại chạy tiếp…


Điều tôi muốn nói ở đây là khi nhin cây Cardan gảy, tôi khong khỏi rùng mình, và nhận biết được rằng chúng tôi đã thoát được một tai nạn khủng khiếp, có lẽ nếu xẫy ra, không ai sống sót. Chúng tôi đã mua phải một cây cardan dổm, một cây cardan gảy được hàn lại một cách sơ sài. Cây cardan đường kính 3cm, mà chỉ được tiện và hàn một vành có độ dày khoảng 4-5mm. Nói một cách nôm na, phần mặt nối lại với nhau chưa tới 50%.
Trong thời gian một ngày một đêm bị sóng nhồi, chân vịt đặp lên đặp xuống mặt nước biển không biết mấy trăm lần, mà cây cardan dổm lại chịu đựng được. Nếu cardan gảy trong lúc nầy, chỉ vài phút là thuyền sẽ bị lật. Nói chi tới việc thay thế, điều đó hoàn toàn không thực hiện được trong điều kiện sóng gió nói trên, và cũng không có thời gian để thực hiện.


Biết bao nhiêu thuyền nhân đã bỏ mình trên biển do tàu bị bể, máy tàu bi hư. Những người bất lương làm đồ giả, đồ dổm, chỉ cốt kiếm được vài chỉ vàng, mà đôi khi hại chét hàng trăm người. Trường hợp cây cardan của chúng tôi là một. Tất cả 48 người trên thuyền của chúng tôi may mắn thoát nạn. Tôi muốn giữ phần ngắn của cây cardan gảy để làm kỹ niệm, nhưng không may người ( Mã Lai ) đưa chúng tôi trở lại tàu sáng hôm sau rất khác khe. Chúng tôi phải đốt thuyền ngay, theo đòi hỏi của anh ta. Tôi đã không có cơ hội thực hiện điều mình muốn.

 

 

Nói tóm lại, trong 3 kỹ vật mà tôi có ý định thu thập, cuối cùng chỉ còn cái áo bà ba màu nâu. Đơn giản là nó năm trên người của bà xã tôi, nên tôi phải bảo vệ đến cùng. Nói đua cho vui thôi, thực ra nó là vật mình đã năm trong tay từ đầu, và rất dể cất giữ.