Nhiều người có tài, bắt đầu bằng hai bàn tay trắng, đã gầy dựng được sự nghiệp rất đáng phục, qua con đường kinh doanh. Người Việt ở đây kinh doanh nhà hàng ăn (Restaurant) và tiệm Nail rất nhiều, nhưng những ngành nghề khác không phải là hiếm, như địa ốc, siêu thi, beauty shop, tiệm bánh ngọt, tiệm bán đồ tiện tử, phòng trà ca nhạc, khách san, tiệm vàng bạc, Furnitures…, và cũng có người làm ăn với thị trường chứng khoáng.
Gia đình truyền thống làm công chức, không rành về kinh doanh thương mại, nên các con của chúng tôi đành phải chọn con đường Đại học để kiếm một nghề nuôi thân. Đại học Mỹ rất tốn kém, nhưng đối với những gia đình có thu nhập thấp, sẽ được chính phủ trợ cấp một phần. Nếu chưa đủ, sinh viên có thể vay, và sẽ trả lại dần dần khi ra trường. Các con của chúng tôi, cả 4 anh em, đã phải vay tổng cộng khoảng một triệu đô- la!
Đến năm 1999, tức 16 năm sau, chúng tôi xây ngôi nhà mới 4 phòng ngủ, và ở cho đến ngày hôm nay.
Năm 2001, sau một tai nạn xe hơi trên đường đi làm về, bà xã tôi đã xin nghỉ việc, vì cảm thấy không yên tâm khi lái xe. Hơn nữa, lúc nầy, đã có 2 con xong đại học, có việc làm, và bắt đầu quay trở lại hổ trợ cho cha mẹ. Do đó, tuy chỉ còn mình tôi đi làm, mà mức sống lại khá hơn trước.
Đến năm 2004, tôi xin nghỉ hưu sớm vì không muốn để bà xã tôi ở nhà một mình. Ở Mỹ, nhà ai nấy ở, không chạy qua chạy lại loạn xa như bên mình, vì vậy, ở nhà một mình rất buồn.
Trời thương, cả hai vợ chồng tôi hơn mười năm qua chưa có vấn đề gì về sức khoẻ, nhờ thế mà hưởng được chút an nhàn của những ngày nghỉ hưu. Ở đây, ăn ở không mấy ai thiếu, người ta cố gắng dành dụm chút tiền để đi du lịch. Từ sau khi nghỉ hưu, vợ chồng tôi đi du lịch nhiều hơn trước. Mỗi năm, ít nhất có một lần đi ra nước ngoài. Gia đình gắn bó với nhau, đã thành thói quen, do đó chúng tôi thường đi du lịch cả đại gia đình với nhau.

Các con của chúng tôi, hai trai và hai gái, tất cả đã lập gia đình. Ba cháu đầu kết hôn với người cùng quê hương gốc Viêt- Nam. Cháu gái út, được sinh và lớn lên ở Mỹ, đã chọn chồng là người bản xứ cờ hoa. Thật ra, vợ chồng tôi cảm thấy dể chịu và gần gủi hơn với dâu, rể người cùng quê. Nhưng có ngô có khoai cho vui cửa vui nhà cũng được. Hiện tại chúng tôi có 7 cháu nội ngoại, đủ vui với tuổi già.

Bốn mươi lăm năm ở quê nhà, ba mươi ba năm ở quê người! Mọi chuyện như giấc chiêm bao, cuộc đời đẩy đưa không thể nào lường trước được. Ai có thể ngờ rằng một ngày nào đó tôi sẽ mang vợ con đến một vùng xa lạ, tuyết giá, xa xôi để kiếm sồng. Tôi cũng không nghĩ rằng, có ngày tôi làm việc trong một công ty nghiên cứu thuốc tay. Tôi cũng không nghĩ rằng tôi có được cơ hội đi đây đi đó, nhiều nơi trên thế giới. Đặc biệt hơn nữa, lý do gì tôi mang quốc tịch Mỹ , và tại sao tôi phải tạm thời từ bỏ quốc tịch Việt Nam? Tất cả là những điều không nghĩ có thể xẫy ra, nhưng đã xẫy ra!
Khát vọng tìm một đất sống không kềm kẹp áp bức, đành phải đánh đổi bao nhiêu thứ, trong đó tình cảm quê hương là lớn nhất, sau mang sống của mình. Không hối tiếc, nếu phải làm lại, đôi khi còn quyết liệt hơn, nhưng rõ ràng là một cái giá phải trả.
Những ký ức về xứ Huế thân yêu, nơi quê cha đất tổ: câu Trường Tiền, bến đò Thương Bạc, chợ Đông Ba, ngã ba Gia Hội, Chua Diệu Đế, núi Ngự Bình … , tất cả hiển hiện trong trí tôi.

Rồi Đà Nẵng với bao năm dài tuôi thơ cùng đám bạn thời Trung hoc, mà hiện nay một số không ít còn tại đó: con đường Bạch Đằng bóng mát chạy dọc bờ sông, bãi biển Thanh Bình, bãi biễn Mỹ Khê, Chùa Non Nước, Cổ Viện Chàm, cầu tàu Thị Chính…Tất cả các nơi ấy và biết bao nơi khác nữa đã có dấu chân của tôi, và đặc biệt, nới ấy tôi có một đám bạn tuyệt vời.

Bảo lộc, nơi tôi có nhiều kỹ niệm vui buồn của một người đã ra đời, khác với Huế và Đà Nẵng là hai nơi ôm ấp những kỹ niệm của thời học trò.
Bảo lộc ngày nay có thể đẹp, có thể to và văn minh hơn rất nhiều ngày tôi ở đó, nhưng không còn là Bảo Lộc của tôi. Bảo lộc của tôi man dại nhưng hiền hoà. Bảo lộc của tôi trập trùng với những đồi trà xanh thẳm, cách nhau bởi những con đường đất quanh co. Bảo lộc của tôi được vây quanh bởi những ngôi làng nhỏ bé Tân Phát, Tân Thanh, Tân Hoá , Tân Bui… Bảo lộc của tôi với núi Đại Bình chỉ dám nhìn mà không dám đến. Bảo lộc của tôi với những thung lủng, vào những buổi sáng đẹp trời, đong đầy những giải lụa trắng xoá. Khi ánh nắng ban mai bừng lên, đám sương mai tan dân, khác nào các nàng tiên đã đem đi những giải lụa vừa giủ xong. Nhìn lên lưng chừng đồi, hàng đàn thiếu nữ lưng mang gui, tay thoan thoát hái trà, khác nào các nữ vũ công Xiêm-La đang biểu diễn trên một sân khấu vĩ đại. Thi vị hoá một chút cho vui, nhưng quả thật, cái gì không còn mới quí.
Bảo lộc rất thích hợp cho những người muốn xa lánh nơi thị tứ như tôi, nhưng những gì làm cho tôi lưu luyến sâu sắc nơi nầy chính là con người mà tôi đã có cơ hội sống gần gủi trong gần 10 năm. Cách đối xử với nhau như một đại gia đình, không tìm thấy ở nơi khác. Ngoài ra, lớp học, bảng đen, viên phấn trắng, lưu xá, nhà ăn, sân bóng, đại thính đường, và bao nhiêu con người khác đã cùng với tôi, cuộn lại với nhau, tao nên một chuyện kể không bao giờ hết. Một cảnh sống nhiều thiếu thốn về vật chất, nhưng đậm đà về tình cảm.
Từ bốn phương trời của đất nước, nam thanh nữ tú tụ họp về đây, một nơi xa xôi hẻo lánh. Có lẽ vì thế mà mọi người đã sông với nhau nhiều tình cảm. Cùng nhau chia xẻ những tiện nghi hạn hẹp, như thầy trò san sẻ nhà ở cho nhau, bạn bè chia sẻ cho nhau miếng ăn trong những đêm thức khuya học thi dưới ánh đèn dầu mù mờ. Ngay cả người bán quán nghèo cũng đối xử với khách hàng của mình, là những học viên, như em, như con.
Rồi những đêm văn nghệ ở Đại Thính Đường, tiếng đàn tiếng trống như động viên, như an ủi nhau, để quên đi nổi nhớ nhà, quên đi ánh đèn màu và phố xa đông người. Còn nữa, những lần cắm trại bên bờ suối, một trận đá bóng với đội bóng ngoài Thị Xã, nẫy lửa, nhưng chẳng đội nào ăn cái giải gì cả…Tất cả là nổi nhớ không tên.