Nàng tên là Mỵ Ê, người Chiêm Thành, không biết họ gì, vốn vương phi vua Chiêm Xạ Đẩu

Triều vua Lý Thái Tông (1028-1054 ) nước Đại Việt, Xạ Đẩu không theo lệ cống, thất lễ Phiên thần, vua tự đem quân Nam chinh.

Xạ Đẩu bày trận ở sông Bồ Chính nhưng bị quân nhà Lý đánh bại. Xạ Đẩu chết tại trận. Vua nhà Lý tiến vào thành Phật Thệ là quốc đô của Chiêm Thành bắt được vương phi Mỵ Ê cùng một số cung nhân , nhạc nữ, đem về nước.

 

Khi thuyền đến song Lý Nhân, giữa đêm, vua nghe Mỵ Ê có sắc đẹp, bên sai quan Trung Sứ vời đến chầu thuyền ngự. Mỵ Ê không dấu được phẩn uất, từ chối rằng:

-  Vợ phường man rợ quê mùa, y phục xấu xí, ngôn ngữ thô lỗ, không giống các phi tần đất Việt. Nay nước tan, chồng mất, chỉ mong một chết là thoả lòng; nếu cưởng bức hợp hoan, ngại nổi làm dơ mình rồng vậy.

Đoạn, nàng lén lấy chăn lông chiên quấn lấy kín thân mình phó tính mạng cho dòng nước chảy. Thế là, đánh ầm một tiếng, mất tăm hình bóng người xinh.

Nhà vua kinh hoàng tự hối, muốn cứu nhưng không sao kịp nữa.

Tương truyền từ đó, nơi nầy mỗi khi đêm thanh, canh vắng, người ta thường nghe văng vẳng có tiếng phụ nữ khóc kể bi ai. Dân trong vùng cho việc kinh dị, xin lập đền thờ, bây giờ mới dứt tiếng khóc.

Một hôm, nhân dịp vua Lý Thái Tông đến sông Lý Nhân. Thuyền thả giữa dòng, nhà vua thấy trên bờ có một đền thờ, lấy làm lạ hỏi, Hầu thần đem chuyện Mỵ Ê kể lại. Vua yên lặng hồi lâu, phán rằng:

-   Không ngờ gái rợ lại có kẻ u trinh đến thế, quả là một gái phi thường. Nếu quả thật là linh thiêng tất nàng sẽ báo cho Trẩm biết.

Đêm ấy đã canh ba, chợt nghe một ngon gió thơm thổi đến, khí lạnh tê người. Nhà vua chợt thấy một người đàn bà yểu điệu, dung nhan đẹp đẻ, uy nghi bước đến, cúi lạy vừa khóc rằng:

-  Thiếp nghe đạo của kẻ phụ nhân là tòng nhất nhi chung. Quốc vương trước của thiếp tuy chẳng dám so sánh cùng Bệ hạ nhưng cũng là bậc nam tử kỳ tài riêng cỏi. Thiếp từng được lạm dự phần khăn lược, chẳng may gặp cảnh nước tan, chồng mất, thiếp đêm ngày sầu thương, rầu rỉ, chỉ lo báo bổ. Nhưng quần thoa yếu ớt chẳng biết tính sao? May nhờ hồng ân của Bệ Hạ sai Trung sứ tiển thiếp xuống truyền đài hội ngộ cùng chồng. Sở nguyện của thiếp thoả rồi. Thiếp nào có pháp thuật gì để dám tự xưng linh thiêng, nào có lời nói gì có thể xứng tai Bệ Hạ.

Nói xong không thấy đâu nữa.

Vua kinh hãi tỉnh giấc, mới hay là chiêm bao. Đoạn truyền đem lễ vật đến miếu cúng tạ, sắc phong làm Hiệp Chính Nương. Từ đó về sau,dân chúng xa gần cầu đảo đều thấy linh ứng.

Cảm nổi chua xót của nàng Mỵ Ê phải tuẩn tiết trong cảnh nước mất nhà tan, thi sĩ Tản Đà có làm bài thơ từ khúc để tả nổi lòng của người vương phi bạc mạng:

Châu Giang một giải sông dài

Thuyền ai than thở, một người cung phi!

Đồ Bàn thành phá huỷ,

Ngoạ Phật tháp thiên di.

Thành tan, tháp đổ

Chàng tử biệt, Thiếp sinh ly.

Sinh ký đau lòng kẻ tử quy!

Sóng bạc ngàn trùng

Âm dương cách trở

Chiên hồng một tấm,

Phu thê xướng tuỳ.

Ôi mây! Ôi nước! Ô trời!

Đũa ngọc, mâm vàng, giọt luỵ rơi.

Nước sông trong đục

Lệ thiếp đầy vơi

Bể bể, dâu dâu, khóc nổi đời!

Trơi ơi! Nước hởi! Mây hời

Nước chảy, mây bay, trời ở lại

Để thiếp theo chồng mấy dặm khơi!...

 

 ( Nguồn Internet )