Những bước khởi đầu
Chỉ mới trước đây chừng 30 năm thôi, rượu vang Mỹ nói chung vẫn còn bị coi như một thứ sản phẩm loại xoàng, giá rẻ, dành cho giới bình dân, cho những người dễ tính, miễn sao có rượu uống là được rồi, không cần để ý nhiều lắm đến phẩm chất cao hay thấp. Loại rượu Mỹ được tiêu thụ với số lượng nhiều nhất vào hồi đó là "jug wine", đựng trong những bình chứa to từ 3 tới 4 lít, và giá tiền chỉ vào khoảng $4, tức là mỗi lít có $1. Rượu mà bán với giá rẻ như vậy thì phẩm chất dĩ nhiên không thể khá hơn Coca Cola là mấy!



Những nhà sản xuất jug wine lớn nhất là Gallo, Paul Masson, Carlo Rossi và Almaden, mỗi năm tung ra thị trường cả triệu lít và thu về khá nhiều lợi nhuận. Họ ngang nhiên dán lên những bình rượu to cỡ 1 gallon đó những nhãn hiệu như Hearty Burgundy hay Claret cho rượu đỏ, Chablis hay Riesling cho rượu trắng, v.v..., mặc dầu chúng chẳng có chút liên hệ nào với những vùng Burgundy hay Chablis bên Pháp cả. Công bằng mà nói, jug wine cũng không đến nỗi tệ lắm bởi vì nó được pha chế hơi ngọt ngọt, dễ uống, chẳng khác gì ta uống nước nho để giải khát mà lại có thêm chút ít chất alcohol khiến cho ta có cảm giác ngà ngà say. Sinh viên nghèo như mấy đứa chúng tôi hồi mới sang Mỹ có cái này mà uống cũng đỡ khổ lắm ạ!

Thực ra, vẫn có một số ít những trường hợp ngoại lệ, trong đó các nhà sản xuất rượu cỡ nhỏ hoặc cỡ trung bình (vào hồi ấy), như Inglenook, Robert Mondavi, hay Beaulieu Vineyard chẳng hạn vẫn làm ra những chai rượu rất ngon mà họ xếp vào loại special reserve hoặc private reserve, giá bán có thể từ dăm ba chục cho đến gần 100 đồng một chai mà vẫn có người mua vì phẩm chất rõ ràng là xuất sắc của nó. Loại này khác hẳn với loại rượu thường cũng của các nhà sản xuất vừa kể nhưng giá chỉ từ $6 trở xuống.

Rượu vang Mỹ trên trường quốc tế

Trước thập niên 1970, những người sành điệu, biết thưởng thức hương vị thơm ngon của rượu, biết phân tích những yếu tố phức tạp mà hài hòa trong chất rượu, và lại có phương tiện để mua những chai rượu loại đắt tiền thì đương nhiên là họ tìm mua rượu vang Pháp chứ ít ai để ý đến rượu Mỹ. Rượu Pháp lúc ấy hầu như giữ ngôi vị độc tôn. Nó được coi là Thái Sơn Bắc Đẩu, là khuôn vàng thước ngọc để đo lường phẩm chất ngon hay dở của tất cả mọi thứ rượu vang sản xuất ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Với tư thế như vậy, các nhà làm rượu danh tiếng của Pháp ở vùng Bordeaux, và nhất là vùng Bourgogne, tha hồ muốn "charge" bao nhiêu tiền cũng vẫn có người mua sản phẩm của họ. Giới tiêu thụ Mỹ chê rượu Pháp quá đắt, không chịu mua ư? Thì đã có ông Đức, ông Nhật sẵn sàng tung tiền ra mua ngay. Hồi đó, các nền kinh tế của Đức và Nhật đang bốc lên như diều gặp gió, họ có quá nhiều tiền, không biết xài vào đâu cho hết nên "phú quý sinh lễ nghĩa" họ bèn quay sang thưởng thức rượu vang ngon của Pháp, giá cao bao nhiêu cũng bất cần.

Phải công nhận rằng mấy ông Tây bà Đầm rất giỏi về chuyện tiếp thị, tức là đề cao những loại rượu vang ngon của họ, làm cho cả thế giới cảm thấy háo hức nôn nóng muốn mua về uống thử coi cho biết. Họ lại khéo léo gán cho rượu vang Pháp những hình ảnh thật hào hoa phong nhã khiến ai cũng ham thích.

Bạn đưa đào vào tiệm cơm tây mà muốn chứng tỏ cho đào thấy bạn là tay lịch thiệp, sành điệu, để em nhìn bạn bằng con mắt thán phục thì dĩ nhiên bạn phải kêu chai rượu Pháp. Điệp viên James Bond, mẫu người hùng lý tưởng của hầu hết đàn ông trên trái đất này, khi ngồi uống rượu với đào đã chẳng order chai Champagne "Dom Perignon" 1959 đó sao?

Cô bé lọ lem biến thành công chúa

Ngoài ra, mỗi năm cứ vào mùa hái nho gọi là vendanges khoảng từ tháng 9 đến tháng 10, các nhà sản xuất rượu vang Pháp lại tổ chức những hội chợ triển lãm các sản phẩm của họ ở hầu khắp mọi nơi trong nước, mà lớn nhất là Vinexpo ở vùng Bordeaux và các Concours des Vins tức là những cuộc thi rượu ở thủ đô Paris. Họ có nhã ý mời tất cả các quốc gia sản xuất rượu vang trên thế giới đem sản phẩm của mình đến tham dự, chỉ với mục đích là để tìm hiểu xem những thứ sản phẩm "ngoài lề" đó so với rượu vang Pháp thì đã học hỏi được bao nhiêu, chứ còn chuyện thi đua để chiếm giải nhất nhì là chỉ giữa rượu Pháp với nhau thôi.

Nếu nói theo văn chương kiếm hiệp của Kim Dung thì những Concours des Vins này cũng giống như những cuộc "Hoa Sơn luận kiếm", trong đó các Chateaux danh tiếng nhất của Pháp như Lafite Rothschild, Mouton Rothschild, Latour, Margaux, Haut-Brion, Pétrus, Cheval Blanc, v.v... cũng giống như những danh môn chính phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Côn Luân... Họ thay nhau giữ ngôi vị bá chủ trong võ lâm.

Rượu Ý, rượu Đức, rượu Tây Ban Nha chỉ được coi như những bang hội vặt vãnh trên chốn giang hồ. Còn đến như rượu Mỹ, rượu Úc, rượu Chi-Lê thì đại khái cũng như bọn bàng môn tả đạo ở ngoài 36 đảo, 72 động, nếu có được vào chứng kiến võ công thượng thặng của Trung quốc cũng chỉ là để may ra học lỏm được một vài chiêu thức đem về nghiền ngẫm với nhau mà thôi.

Tuy nhiên, trong một Concours des Vins được tổ chức tại Paris vào năm 1976, một chuyện bất ngờ chưa từng có đã xảy ra. Cũng như thông lệ, tại cuộc thi này nhà tổ chức mời một ban giám khảo gồm những nhân vật được coi là có thẩm quyền trong ngành rượu vang, những người từng viết sách viết báo phê bình về rượu vang, hoặc là những sommeliers (chuyên viên rượu vang mà nghề nghiệp chỉ là nếm và lựa chọn rượu ngon cho những tiệm ăn sang trọng nhất) đến chấm điểm cho các loại rượu dự thí.

Các giám khảo nếm rượu theo kiểu "blind tasting", tức là các nhãn hiệu trên chai đều bịt kín, những ly rượu trước mặt họ chỉ được đánh dấu bằng mã số A, B, C, D hay 1, 2, 3, 4, v.v... Họ thẩm định phẩm chất của từng loại rượu, căn cứ trên màu sắc (robe), hương thơm (bouquet), mùi vị ở đầu lưỡi (gout), dư vị trong cuống họng (arrière-gout), rồi cho điểm theo mỗi tiêu chuẩn đó.

Cuối cùng, khi các điểm số dành cho mỗi loại rượu được tổng cộng lại rồi đem ra công bố thì kinh ngạc thay, chai rượu được nhiều điểm nhất, được huy chương vàng, lại không phải là một chateau danh tiếng lẫy lừng nào của Pháp, mà là một chai rượu Mỹ! Chai rượu này do một nhà sản xuất vô danh tiểu tốt là Stags' Leap Wine Cellars ở Napa Valley trong bang California vừa làm ra năm 1973, rồi sau 2 năm ngâm trong thùng gỗ sồi và một năm đóng trong chai đặt dưới hầm, nó được đưa sang Pháp để gọi là "đem chuông đi đấm xứ người". Ai ngờ đâu chuông lại kêu to đến mức chấn động giang hồ như vậy.

Điều đáng chú ý là ban giám khảo năm ấy gồm toàn những ông Tây sành rượu chứ không có người Mỹ hay người ngoại quốc nào cả. Tài nếm rượu của mấy ông này thì dĩ nhiên là khỏi chê. Những lời thẩm định phê phán của mấy ổng được giới tiêu thụ rượu ở khắp nơi lắng nghe và tin theo răm rắp. Vậy mà mấy ổng đều đồng ý cho chai rượu Mỹ nhiều điểm nhất thì chắc là rượu Mỹ phải có gì xuất sắc hơn đời. Thế là kể từ sau thắng lợi bất ngờ đó của nhà Stags' Leap Wine Cellars, rượu vang Mỹ đã được cả thế giới nhìn bằng con mắt kính trọng hơn chứ không còn bị xem thường xem khinh như trước nữa. Và cũng chỉ từ sau năm 1976, Mỹ mới có được một chỗ đứng đáng kể trên bản đồ rượu vang thế giới.

Khi người khổng lồ thức dậy

Thừa thắng xông lên, rượu vang Mỹ từ 1976 tới nay đã tiến bước bằng đôi hia 7 dặm. Ngoài hãng Stags' Leap Wine Cellars ra, người ta còn thấy những nhà làm rượu nhỏ gọi là "boutique wineries" như Plumpjack, Silver Oaks, Caymus, v.v... mọc lên như nấm trong vùng Napa, rồi Sonoma Valley, lan tràn cả xuống vùng Monterey, Santa Cruz, Santa Barbara v.v.... Mỗi nhà lại sản xuất ra những thứ rượu với cá tính đặc sắc khác nhau tùy theo thủy thổ, khí hậu, loại nho và tài làm rượu của những chuyên viên mà họ tin cậy.

Nhưng không phải chỉ có California mới làm ra được rượu vang ngon. Hiện giờ, tất cả 48 tiểu bang trên lục địa Hoa Kỳ đều có trồng nho và sản xuất rượu vang không nhiều thì ít. Thực ra, so với các tiểu bang ở miền Đông thì California chỉ được xếp vào hàng hậu bối, sinh sau đẻ muộn trong ngành làm rượu. Nhưng California có cái may mắn là khí hậu rất tốt, đất đai lại đặc biệt thích hợp cho các loại nho đem từ Âu châu sang như Cabernet Sauvignon, Merlot, Pinot Noir, Syrah, để làm rượu đỏ, Chardonnay, Sauvignon Blanc, Riesling... để làm rượu trắng, cho nên California được coi là tiêu biểu cho ngành công nghiệp rượu vang của Mỹ.

Nhưng gần đây, các tiểu bang trên miền Tây Bắc như Washington, Oregon, đang sản xuất được những loại rượu vang ngon có khi còn qua mặt cả California. Thí dụ: vùng thung lũng Willamette trong bang Oregon là nơi mà nho Pinot Noir, một loại nho vốn nổi tiếng là khó tính, khó trồng, lại phát triển rất tốt đẹp và cho những thứ rượu vang tuyệt hảo chẳng kém gì rượu ở vùng Bourgogne của Pháp.

Đây đúng là một hiện tượng trăm hoa đua nở, bởi vì ngoài những "boutique wineries" như Shafer, Paul Hobbs hay Kathryn Kennedy ở Napa Valley, chuyên sản xuất những chai rượu quý mà phẩm chất có thể so sánh ngang ngửa với bất cứ loại rượu thượng thặng nào của Âu châu, thì còn cả trăm nhà sản xuất khác làm ra những loại rượu hạng trung (khoảng vài ba chục đồng), uống rất ngon, và hạng thông thường (chỉ $10 trở xuống thôi) để uống hằng ngày, mà vẫn khoái khẩu.

Một thí dụ điển hình là vùng Columbia Valley mênh mông bát ngát của bang Washington sản xuất ra những chai Columbia Crest, Grand Estates Series - dù là Cabernet Sauvignon, Merlot, Syrah hay Chardonnay - giá bán chỉ vào khoảng từ $8 đến $10, mà phẩm chất không thua những chai rượu Pháp giá đắt gấp đôi hay gấp ba.

Sức chịu đựng dẻo dai chưa từng thấy

Bây giờ thì rượu vang Mỹ đã nghiễm nhiên có một tư thế rất đáng nể ở khắp mọi nơi trên thế giới, kể cả trên bảng danh sách rượu của những tiệm ăn cỡ 3 sao Michelin như Le Doyen ở Paris hay Paul Bocuse ở Lyon bên Pháp. Nhưng trước khi đạt được tư thế đó, ngành sản xuất rượu vang ở Mỹ đã phải trải qua nhiều giai đoạn vô cùng khó khăn vất vả, có lúc tưởng như nó chết luôn không sao ngóc đầu lên được nữa.

Thí dụ hồi cuối thế kỷ thứ 19, khi các loại nho làm rượu đưa từ Au châu sang trồng ở Mỹ đang nảy nở tốt đẹp thì một nạn dịch gọi là phylloxera, do những con bọ nhỏ li ti chuyên ăn hại rễ nho gây ra, làm chết rụi hầu hết mọi ruộng nho ở California. Cho đến khi người ta tìm được cách ghép các loại nho Âu châu vào gốc những cây nho bản xứ, đã từng chịu đựng sự tấn công của phylloxera và đã phát triển được tính miễn nhiễm (immunity), thì nho mới sống sót và ngành làm rượu của Mỹ mới phục hồi trở lại.

Phục hồi chưa được bao lâu, rượu vang Mỹ lại bị một đại nạn khác nữa, đó là đạo luật cấm bán rượu, cấm uống rượu trên toàn quốc, gọi là Prohibition, kéo dài trong vòng 13 năm, từ 1920 đến 1933.

Nguyên hồi ấy phụ nữ Mỹ vừa tranh thủ được quyền đi bỏ phiếu sau bao nhiêu năm vận động cam go. Với sức mạnh chính trị mới dành được, họ bèn gây áp lực để các ứng cử viên vào quốc hội phải cam kết sẽ thông qua một đạo luật cấm rượu. Lý do là vì vào thời đó phần lớn các ông chồng đều rượu chè be bét, say sưa quá trớn rồi đánh vợ đập con làm khổ gia đình nên các bà vận động cấm rượu luôn. Thế là hết uống! Hậu quả là tất cả mọi vùng trồng nho trên nước Mỹ đều phải nhổ hết cây nho đem đốt đi rồi thay thế vào đó bằng những loại nông phẩm khác.

Lãnh một đòn chí tử này, rượu vang Mỹ tưởng chừng như đã bị xóa bỏ hẳn trên mặt địa cầu. Vậy mà ngày nay nó chẳng những đã hồi phục hẳn, lại còn sống hùng sống mạnh, nhờ đó chúng ta vẫn được thưởng thức những chai rượu Mỹ rất phổ thông như Hogue, Petite Syrah, giá chỉ khoảng $7, hoặc Clos du Bois Barrel Chardonnay khoảng $9, mà có thể gọi là khá ngon, cho đến những chai thượng thặng, phẩm chất tuyệt vời như Beaulieu Vineyard (BV) George de La Tour Private Reserve hoặc Shafer, Cabernet Sauvignon, Hillside Select, Napa Valley, giá từ $150 cho đến $200, thì chẳng phải là một điều thú vị và may mắn khiến chúng ta phải cảm ơn Thượng Đế hay sao?

Lê Văn, Certified Specialist of Wine