Nghìn Trùng VI – Những ngày ở Sungei Besi

Đến Pulao Bidong ngày 12 tháng 11 năm 1982, và đầu tháng 2 năm 1983 gia đình tôi được chuyển đến trại Sungei Besi ở ngoại ô Kuala Lumpur để chờ hoàn tất hồ sơ xin định cư tại Hoa Kỳ.
Trại Sungei Besi trong thời gian nầy đầy ắp người tị nạn. Hình như tuần nào cũng có người rời trại và người mới nhập trại.


Những người được chuyển về đây để chờ đị Úc, Canada, hay Pháp sẽ rời trại trong môt thời gian rất ngắn. Vì vậy, khi chúng tôi đến đây, gia đình các anh Minh, Thuyết, Tuấn, và các bạn trẻ Sơn, Hằng, Lý Quỳ, Vân, Vũ đã được yên bề trên xứ sở Kangaru mấy tuần trước rồi.


Những người chờ đợi đi Mỹ, như gia đình chúng tôi, phải lưu lại trại nầy khá lâu. Nhanh nhất là khoảng 3 tháng, sau đó lại được chuyển qua trại Bataan ở Phi luật tân thêm khoảng 6 tháng nữa. Gia đình tôi 5 người được phân ở chung với 8 người khác trong một căn nhà tiền chế. Tổng cộng 13 người, trong đó có 4 vị độc thân ( Hai nam, hai nữ) chiếm 4 giường nhỏ. Gia đình tôi 5 người, và một gia đình khác gồm 4 cha con chia nhau mỗi gia đình góc, ngay hai bên cửa ra vào. Mỗi gia đình gói gọn trên một chiết chiếu trải ngay trên sàn nhà.


Cùng cảnh ngộ, dể dàng san sẻ cho nhau những tiện nghi có được. Từ xa lạ, hôm trước hôm sau đã thành bạn với nhau rồi. Người tới trước chỉ dẩn cho người tới sau. Dể chịu hơn nữa, ngoài hai vợ chồng tôi ra, ba người khác trong phòng cũng là nhà giáo nên chúng tôi chuyện tro với nhau cũng tự nhiên. Cuộc sống của nhà giáo vốn dỉ đã khiêm tốn, trong hoàn cảnh nầy càng không có lý do gì để than phiền.


Sau vài ngày làm quen với chỗ ở mới, chúng tôi bắt đầu tham gia sinh hoạt của trại. Các cháu nhỏ ghi tên theo học Anh ngữ, bà xã tôi tham gia vào toán vệ sinh, và tôi xin giúp việc ở Hội Trường. Vài tuần sau, người bạn cùng phòng được phái đoàn Mỹ chấp thuận, chờ chuyến bay qua Philippine, đã chuyển lại nhiệm vụ Trưởng Ban Hồ Sơ Khiếu Nại cho tôi, và từ đó tôi có nhiều việc để làm không còn nhiều thì giờ để suy nghĩ vẩn vơ.


Không hiểu vì sao đã tồn đọng rất nhiều hồ sơ chưa hoàn chỉnh mà việc bổ sung hay giải thích không mấy khó khăn, khiến nhiều người phải chờ đợi hết tháng nầy qua tháng khác. Có nhiều người đã phải nằm lại Sungei Besi hơn 6 tháng rồi vẫn chưa được chấp thuận.


Trong tháng đầu làm việc, Ban chúng tôi đã hướng dẩn bà con cách thức bổ túc hồ sơ. Giúp bà con làm đơn trình bày những điều mà phái đoàn cho là không rõ ràng, hoặc giúp bà con chứng minh sự liên hệ gia đình, hoặc tư cách tỵ nạn của họ.
Việc làm của chúng tôi có kết quả hết sức khả quan. Thế là từ đó, bà con kéo nhau lên chật cả Hội Trường, nhờ chúng tôi hướng dẩn và làm đơn giúp. Tôi không đủ Anh Ngữ để trình bày cặn kẻ những điều muốn giải thích và cũng không đủ thì giờ để viết, nên Ban Hồ Sơ Khiếu Nại của chúng tôi đã được tăng viện 4,5 bạn trẻ giỏi English. Chúng tôi bổ túc cho nhau, tôi có kinh nghiệm làm việc nhưng yếu English, các bạn trẻ có đủ English nhưng thiếu kinh nghiệm. Trong vòng chưa đầy 3 tháng, đã giúp được hơn cả trăm hồ sơ trót lọt.


Ở Bidong có biển để tắm và có núi để chạy lên chạy xuống hằng ngày cũng thoải mái. Ỏ đây, chật chội mà người lại rất đông, để có cơ hội vận động cơ thể, chúng tôi lập hội đá banh. Để tăng phần hao hứng, chúng tôi chia thành hai phe : Hội Trường, và Hội Đồng Trại. Thứ bảy hằng tuần đều có trận đấu rất sôi nổi giữa đội bóng Hội Trường và đội bóng Hội Đồng Trại. Đội bóng Hội Trường của tôi yếu hơn đội bóng Hội Đồng Trại, nên đã được tăng cường một thủ môn nhà nghề của Nông Lâm Súc Bảo-lộc, Hoàng Việt Cường ( Em trai của Hoàng Việt Hùng), được tiến cử bởi ông chủ tàu Trần Thanh Giang, mặc dầu anh thủ môn nầy không hề làm việc ở Hội trường!


Bây giờ trở lại với những người bạn cùng phòng, để phần nào thấy được bước đường gian nan của những con người được gọi là Boat People.  Trước hết là gia đình chúng tôi, cùng với 39 người khác, đã cùng nhau vượt biển trên chiết tàu dài chưa tới 9 thước với động cơ một lốc 15 mã lực củ mèm. Một con tàu gổ nhỏ bé như thế, lại được leo lái bởi một nhóm người không chuyên nghiệp, gặp phải sóng cấp 4 cấp 5, kèm theo gió khá mạnh và liên tục đổi chiều, mà được tai qua nạn khỏi, quả là điều kỳ diệu. Cái giá để mua một không khí tự do quả không nhỏ tý nào! Khả năng làm mồi cho cá dể như trở bàn tay!


Hoàn cảnh anh thầy giáo trẻ và bốn cha con anh bạn nhà giáo cùng phòng không kém phần ly kỳ. Họ quen thân nhau từ trước, và vượt biên trên cùng một tàu. Trước 75, anh bạn có gia đình làm Hiệu trưởng một trường bên Nhà Bè, vì vậy, anh được những người chủ mới thưởng cho mấy năm “ cải tạo”. Có lẻ cũng đã bị trược vỏ chuối mấy lần rồi, nên lần nầy để vợ và hai con nhỏ lại, anh đem theo 3 con, hai trai một gái. Tàu của họ được một người đàn bà rất kiên cường tổ chức và chỉ huy.


Bằng cách nào không ai biết, bà đem theo tàu khoảng hơn 20 cây giáo dài và một vài súng ngắn . Khi tàu ra khơi, bà giao số vũ khí đó cho những người tình nguyện chống hãi tặc, và cùng nhau thề nguyền thà chết chứ không để hãi tặc hảm hiếp hoặc bắt đi vợ con của mình.


Tàu phát xuất từ Rạch giá, ngay buổi chiều hôm sau, một tàu hãi tặc đã rược theo. Khoảng cách hai tàu càng lúc càng gấn. Những tên hãi tặc man rợ chuẩn bị kẹp tàu nhảy sang. Giờ phút liều chết để bảo vệ vợ con đã đến, tất cả người cầm giáo vụt đứng lên cùng một lúc, với tư thế sản sàng nhảy qua tàu của chúng. Bị phản ứng bất ngờ và rất quyết liệt của nhóm người tỵ nạn, bọn man rợ nhưng hèn nhác đã dạt tàu ra rồi bỏ đi. Nếu không có hành động liều mạng như vậy, không biết chuyện gì sẽ xẫy ra. Một số không nhỏ những người vượt biên bằng thuyền đã bị làm nhục và sát hại bởi bọn man rợ nầy!


Chung phòng với gia đình tôi, có hai người đàn bà. Người thứ nhất là cô Ngân, dân Sài gòn, khoảng 25-27 tuổi rất có duyên, tính tình vui vẻ. Trong một chuyến vượt biên trước, cô đi cùng chồng và đứa con trai 3 tuổi. Tàu của cô gặp bảo! Qua mấy tiếng đồng hồ cầm cự, cuối cùng bị mấy đợt sóng lớn liên tiếp đánh bể tàu. Sóng kéo mỗi người đi một nơi. Đêm tối, chẳng ai thấy ai, cô không biết chồng con thế nào. Tiếng kêu la thất thanh của nạn nhân chìm sâu trong biển động, khoảng khắc, rồi mất hút trong tiếng sóng gào!


Cô biết bơi chút chút, và với bản năng sinh tồn, cô cố vươn lên để hít thở mỗi đợt sóng đi qua, nhưng cũng chỉ chống chọi được vài ba phút cô đã đuối sức, sắp sửa buông mình xuống đáy biển!  Thật hết sức may, một mãnh tàu bể khá lớn đã dạt vào người cô và cô ôm lấy. Khi vớ được mãnh tàu bể, một đốm hy vọng lóe lên, sức lực tiềm tàng trong người đã vùng lên mãnh liết, giúp cô đủ sức bám chặc nửa người trên mãnh ván tàu, mặc dầu những đợt sóng mạnh vẫn tiếp tục dập vùi.


Nhiều lần cô sắp bị sóng đánh tung ra khỏi mảnh tàu bể, nhưng với ý chí quyết sống đã giúp cô đủ sức mạnh giử chặc lấy nó. Cho đến sáng hôm sau biển khá yên, cô vẫn nửa người trên tấm ván nửa người dưới nước, giữa biển trời mênh mông. Chỉ mình cô, không một bóng dáng sống sót nào khác quanh cô!
Qua một đêm hải hung vật lộn với thần chết, rồi một ngày phơi nắng, và thiếu nước cô đã ngất đi lúc nào không biết.


Đến buổi chiều, khi tỉnh dậy, cô thấy mình đang nằm trên một tàu đánh cá. Người ta cho cô biết, tình cờ, họ đã vớt được cô khoảng hơn một giờ trước đây. Khi họ đưa lên tàu, cô đang mê mang. Họ cũng không hiểu làm thế nào, cô vẫn bám được vào tấm ván thuyền khi cô đã bất tỉnh. Điều hết sức may là cô đã trôi dạt ngay chính trên đường trở về bến của họ, nhờ thế mà cô được cứu sống. Điều không may, là họ phải ghé vào bến ở Côn Đảo, và do đó họ phải giao cô cho công an biên phòng.


Cô bị giam ở Côn đão nửa tháng, sau đó chuyển về trại giam Vũng tàu. Từ trại giam Vũng tàu, cô liên lạc được với gia đình. Thân nhân của những người cùng tàu với cô, tưởng chuyến đi trót lọt và ngày đêm chờ báo tin lành. Chỉ mình cô là kẻ duy nhất may mắn sống sót, nhưng lại bị giam ở Côn Đảo mất nửa tháng, nên thân nhân của các nạn nhân không nhận được một tin tức nào cả. Chính cô, khi liên lạc được với gia đình, niềm hy vọng rất mong manh về chồng con cũng tiêu tan!


 

Cô được thả ra sau gần 6 tháng bị giam tại trại tù Vũng tàu, nhờ thân nhân của cô biết điều.  Ra khỏi nhà tù chưa đầy một tháng, cô lại tiếp tục vượt biên. Lần nầy trời thương, chuyến đi trót lọt, và chỉ sau hơn hai ngày đã ghé được vào gian khoan của Maylasia. Cô đến Sungei Besi, khoảng 8 tháng sau ngày đắm tàu, mà vết bầm in đậm phần trước người cô, do bám trên ván tàu, vẫn còn rõ nét.


Người thứ hai là một cô giáo trẻ, khoảng 25 tuổi, người duyên dáng phúc hậu. Cô chưa chồng, nhưng có vị hôn phu đang sống ở Mỹ. Tàu của cô không may bị hãi tặc cướp phá liên tục nhiều ngày. Cô cũng chung số phận với những người đàn bà khác trên tàu, đêu bị bọn bất lương làm nhục. Khi lên tàu cướp phá, chúng lấy mất máy nên tàu không chạy đi đâu được. May mắn, một đêm gió thổi mạnh về hướng nam, và nhờ những cánh buồm tự chế đã đưa con tau ra khỏi vùng hãi tặc. Mấy hôm sau lại được một tàu vượt biên khác cứu và cùng đưa nhau vào giàn khoan.


Sau gần hai tháng chúng tôi đến Sungei Besi, cô được giấy rời trại đi thẳng qua Mỹ. Từ Mỹ cô gởi thư qua cho bà con cùng phòng, báo cho biết cô được vị hôn phu và bạn bè đón tiếp rất ân cân. Mọi người rất mừng cho cô, và câu mong qua thời gian hình ảnh đau thương sẽ mờ dần.


Chỉ riêng cậu con trai tên Lộc, khoảng 18-20 tuổi, mặt mày lịch sự, lúc nào cũng hồn nhiên. Có lẻ trong cuộc đời cậu ta chưa trãi qua một cái gì gọi là khó khăn. Sau 75, bao nhiêu người phải điêu đứng, nhưng có lẻ cuộc sống của gia đình câu ta cũng không sao. Nhiều anh chị em cậu đã định cư ở Mỹ từ năm 75, nên dù ở trại tỵ nạn cậu ta vẫn có tiền xài dài dài. Ở trại tỵ nạn mà mặc toàn áo quần mới rất tươm tất, giống như đi dạo phố Sài gòn! Câu ta không hề biểu lộ sự lo lắng. Ngay cả việc học Anh ngử, câu ta cũng không quan tâm. Có ai đề cập đến chuyện học Anh văn , câu ta chỉ cười và nói “ Yes, Yes… No, No… Ba tháng cũng Go!”. Quả thật, cuối cùng cậu cũng “Go” Philippine cùng chuyến bay với gia đình tôi.


Cuối tháng 5 năm 1983, gia đình chúng tôi 9 người, gồm hai vợ chồng, ba con, ba người cháu, và cô em được chính phủ Mỹ chấp thuận cho định cư và chuyển qua trại Bataan ở Philippine học Anh ngữ và chờ tìm người bảo trợ.
Cuộc sống tại trại Bataan thoải mái hơn ở Sungei Besi về nhà ở cũng như lương thực. Sự đi lại cũng tự do hơn. Đặc biệt, yên tâm vì biết rõ quốc gia mình sẽ đến định cư và xây dựng lại cuộc sống. Thời gian khoảng nửa năm lưu lại đây chắc cũng sẽ qua nhanh. Gia đình tôi được phân bổ về Vùng 5. Nhà cửa ở đây khá thoải mái. Chúng tôi được phân riêng một căn nhà, gồm tầng trệt và một gác lửng.


Hằng ngày chúng tôi được học vài giờ tiếng Anh, do những thầy cô giáo người Phi Luật Tân phụ trách. Các cháu nhỏ có các lớp học riêng. Ngoài các giờ học, bà con tuy theo khả năng của mình, tham gia các hoạt động của Trại. Tôi và anh bạn tên Lộc ( Trước 75 làm Hiệu Trưởng một trường Trung học) cùng phụ trách thư tín cho Vùng 5 của mình. Hằng tuần, chúng tôi đi nhận thư tại Trung tâm chính của Trại, lập danh sách, và đem về Vùng 5 để chuyển cho bà con. Người nhận thư phải ký tên vào bảng danh sách. Thư không có người nhận ( vì đã rời Trại) được giao lại cho Trung tâm, để hoàn lại người gởi.


Cuối tháng 11, gia đình tôi có danh sách rời trại. Chúng tôi lại được chuyển bằng xe Bus ra trại chuyển tiếp ở Manila. Ngủ lại đây một đêm, và hôm sau được đưa ra phi trường Manila đáp chuyến bay đi Mỹ. Chúng tôi được dừng chân ở Tokyo mấy tiếng đồng hồ và chuyển sang một máy bay khác.


Máy bay chúng tôi đáp xuống phi trường San Francisco vào buổi chiều ngày 30 tháng 11 năm 1983. Tại phi trường San Francisco, nhân viên ICM hướng dẩn chúng tôi làm thủ tục nhập cảnh, và sau đó đưa chúng tôi ra Motel ngủ lại một đêm. Sáng hôm sau họ lại đến đưa chúng tôi ra lại phi trường để đáp chuyến bay đi Chicago, kết thúc một cuộc hành trình dài nửa vòng trái đất và kéo dài 13 tháng.

Gurnee June. 10. 2010
Lục Phan