Tuổi Thơ IV: Cuộc sống tại Quê ngoại

Phần IV-1: Thời yên bình

Quê Ngoại: Làng Sình

Ông Bà ngoại tôi có 6 người con, 4 trai 2 gái, mẹ tôi là con gái út. Dì tôi, lấy chồng người Niêm Phò, mất vì bịnh đã mấy năm rồi. Cậu cả và cậu hai tiếp tục sống với ruộng vườn. Cả hai Cậu đều có nhà cửa khang trang, và nhiều ruộng. Có lẽ cậu cả có ruộng nhiều nhất làng.

 

Chúng tôi gọi cậu cả là Cậu Lý, vì lúc trước ông làm Lý trưởng. Cậu hai được phong là Cậu Nghè không biết từ hồi nào.

Nghe má tôi kể lại, cậu tôi đi thi nhiều lần, nhưng lần nào cũng chỉ qua được trường nhất, trường nhì, và rớt trường ba. Tuy thế xóm làng vẫn gọi là Ông Nghè, mặc dầu cậu tôi chưa bao giờ đỗ Tiến Sĩ!

Cậu thứ ba, theo Tây học, nên cho phép chúng tôi gọi đúng tên. Tên của cậu là Hà Văn Nẫm, chúng tôi gọi là Cậu Nẫm, gia đình cậu sinh sống ở Qui nhơn.

Tương tự, cậu thứ tư là Hà Văn Huy, chúng tôi được phép gọi là Cậu Huy. Cậu Huy tốt nghiệp ngành Thú Y ở Hà Nội, đổi vào làm viêc trong miền nam, được dân địa phương gọi là ông Năm Huế, rất giàu có ở vùng Sóc Trăng. Con trai đầu của cậu là ông Hà Văn Thân, sau này làm Giám đốc Nha Học vụ Nông Lâm Súc.
Cuối năm 1945, từ Đà Lạt chạy về, lưu lại nhà chú tôi trên phố được mấy tuần, mẹ tôi đã thuê đò cụ Tư đưa gia đình về quê ngoại.

Đấu vật Làng Sình  Lễ Đấu Vật Làng Sình Cụ Lý cầm chầu

Cùng tản cư về, còn gia đình cậu thứ ba của tôi nữa. Gia đình cậu Nẫm và gia đình má tôi đều ở tại nhà cậu Lý. Nhà cậu tôi có thể xem như một cụm gồm 3 nhà gần như tách biệt: một nhà rường rộng khoảng 200 mét vuông, một nhà ngói, mới xây sau này, cũng khoảng 200 mét vuông, với nền nhà cao hơn một mét, và một nhà ngang khoảng 80 mét vuông được nối với nhà chính bằng một nhà cầu.

Tất cả gia đình cậu Lý đều ở nhà rường từ xưa nay, gia đình cậu Nẫm chiếm phần sau của nhà chính ( phần trước để thờ phượng), và nhà ngang dành cho gia đình má tôi.

Cho đến cuối năm 1946, ở Huế chưa thấy cảnh chạy giặc. Việc đồng áng đang hoạt động bình thường. Đến mùa thu hoạch, tôi và người anh kế thỉnh thoảng được theo toán thợ gặt ra đồng.

Các bà chị họ, trong khi chuẩn bị cơm nước cho trai bạn (thợ gặt), dùng mo cau vắt cho mỗi đứa chúng tôi một mo cơm, và chúng tôi theo người đưa cơm ra đồng để xem cảnh gặt lúa.

Chúng tôi thường chỉ đi dọc theo bờ đường để xem các chú gặt, chứ ít khi lội xuống ruộng, vì tuy lúa đã chín vàng nhưng ruộng vẫn chưa khô hẳn. Gặp đám ruộng khô, chúng tôi mới xuống ruộng theo sau các chú.
Cảnh gặt lúa thật vui mắt. Các chú nông phu lực lưỡng, tay cầm vằng, sắp thành hàng ngang thoăn thoắt tay túm tay gặt những chùm lúa vàng nặng trĩu. Lúa được xếp thành luống dài trên ruộng trước khi được bó lại và gánh về nhà cho trâu đạp.

Vừa làm vừa chuyện trò vui vẻ với nhau, thỉnh thoảng bắt được tổ chim với mấy chú chim con hay mấy quả trứng nhỏ xíu, họ lại đèm vào cho anh em tôi.

Thường lúa được gặt từ sáng sớm cho đến trưa là xong. Lúc này thợ gặt thường tập trung ngồi nghỉ ở một mô đất trống cao, hay trên một bờ đê gần đó. Tại đây, thợ gặt dùng bữa trưa, do cậu mợ tôi cho người nhà gánh ra.

Các chú ăn rất khỏe, cứ bốn người ăn hết một thúng nhỏ cơm. Riêng hai anh em tôi mỗi đứa đã sẵn một mo cơm với muối mè, vừa ăn vừa nghe các chú thợ gặt nói chuyện vui, chắc là chuyện tiếu lâm mặn mà vì còn nhỏ nên không hiểu gì.

Vì ăn quá nhiều, tất cả các chú phải nghỉ tại chỗ hơn tiếng đồng hồ, trước khi bắt đầu chuyển lúa về sân đạp.
Lúa được bó thật chặt thành từng bó lớn hơn người ôm và dùng đòn xóc cắm vào để gánh về. Thường mỗi người phải gánh khoảng 3 chuyến mới đem hết lúa về sân.
Ngay từ những chuyến đầu, lúa được xếp dựng đứng sát nhau thanh hình tròn giữa sân, và được tháo dây cột.

Cảnh cho trâu đạp lúa cũng vui mắt. Có khi đưa lúa về nhà trễ, đạp buổi chiều chưa xong, phải chong đen “manchon” làm tiếp ban đêm. Với ánh sang tỏa rộng cả một vùng sân, cảnh đạp lúa trở nên vui nhộn. Lũ con nít trong xóm có cơ hội tập trung nô đùa quanh ánh đèn, chẳng khác chi ngày hội.

Chẳng có việc gì để làm, lại không ai nghĩ đến việc dạy học cho bọn nhỏ chúng tôi mặc dầu có nhiều anh lớn có bằng tú tài hay trung học và rất rảnh rỗi, chúng tôi năm bảy đứa kéo nhau xuống bến bơi lội cho đã, lại kéo nhau ra ruộng câu nhái.

Không hiểu ai bày đầu cái trò dã man này. Câu nhái không phải để ăn, mà mỗi khi kéo lên được chú nào là lấy hết sức đá cho văng lại xuống ruộng, làm trò vui. Lẽ dĩ nhiên bị đeo tòng teng đầu dây câu mà bị một đá, nhái ta phải chết queo chứ sống thế nào được.

Thỉnh thoảng các anh lớn tổ chức đi câu các vùng sông rạch khá xa, tôi năn nỉ xin đi theo. Chưa biết câu, cần lại quá tệ nên suốt cả ngày tôi chỉ câu được khoảng mươi con rô báy ( rô nhỏ) và năm bảy anh cá cấn cá mại.

Nghề câu coi bộ không mấy hấp dẫn, tôi cùng mấy thằng nhóc trong xóm trốn ra đồng tát cá. Bắt chước người lớn, chúng tôi đắp đìa, rồi hè nhau, dùng đủ thứ dụng cụ cả chân nữa, tát nước. Tất nhiên, đứa nào cũng lấm le bùn từ chân lên đầu. Cũng có khi gặp hên, chúng tôi bắt được cả chục cá trê, cá tràu ( cá lóc) bằng cườm tay chúng tôi. Chia nhau một đứa được vài con. Không dám đem về nhà sợ lộ việc “trốn đi tát cá”. Vất đi không đành, kéo nhau ra vườn đốt trấu nướng ăn.

Chị Mót, con gái út của cậu cả tôi, lúc ấy khoảng 18, 19 tuổi, chưa chồng. Chị được phép buôn bán để tạo vốn liếng riêng trong khi đang được cậu mợ tôi bảo bọc. Chị buôn hàng xáo, nghĩa là mua lúa về làm thành gạọ, đem ra chợ bán kiếm lời.

Mỗi ngày, chị mua một lương lúa ( khoảng 100 kg) đem về xay, gĩa , sàng, sảy. Cuối cùng, phân làm 3 thứ: gạo, tấm, và cám. Chị làm một mình từ sáng đến khoảng 2,3 giờ chiều thì xong, và gánh tất cả gạo tấm cám ra chợ Sình bán.

Tôi và anh Năm, người anh kế, nhiều lúc không biết làm gì, xin vào làm phụ với chị Mót. Lúc đầu vụng về, không giúp được mấy, nhưng sau khá thuần thục và được việc cho chị lắm.

Xay lúa Giã gạo chày v ồ

Anh Năm to mạnh, gĩa được cả chày vồ nên có thể gĩa đôi với chị Mót. Việc chính của tôi là giúp chị khi xay lúa. Sau này tôi còn biết sàng gạo nữa. Sàng để tách lúa còn sót ra khỏi gạo cũng phải có kỹ thuật đó nghe!

Vườn nhà Cậu Cả rộng cả mẫu tây, xắp xếp theo truyền thống. Trước mặt và bên trái là hàng rào hóp ( giống như trúc) được cắt tỉa khéo léo, bên phải và phía sau là hàng tre dày đặc. Bên trong hàng tre là con mương khá sâu vừa để nuôi cá vừa ngăn tre xâm nhập vườn.

Trong vườn rất nhiều loại cây ăn trái: nhãn, vải, mãng cầu, bát bát ( giống mãng cầu nhưng da láng như mãng cầu Xiêm), cam sành, cam Xã Đoài, Trứng gà, vú sữa, sa pô chê…không kể đến chuối và mít. Đặc biệt là có ba bốn cây đào ( mận) trái gần như quanh năm.

Nói về con nít trong tuổi phá phách, má tôi có 4 đứa, cậu Nghè tôi có 2 , và cậu Nẫm tôi có 2. Tám tên giặc, đặc biệt bốn người con hai ông cậu, các anh ấy khá lớn nên đã bày ra nhiều trò kinh thiên động địa, phá vườn của cậu tôi hết chỗ chê.

Sau này nghĩ lại mới thấy tình thương của Cậu Mợ và các chị đối với bọn tôi. Những trái cam, mãng cầu, bát bát, sa pô chê chưa kịp già đã bị bứt rồi. Cậu bực lắm, nhưng chỉ la qua loa rồi thôi.

Nói đến tình thương của các chị họ đối với tụi tôi thì phải nói là vô địch. Đương nhiên, gia đình má tôi phải dựa vào sự giúp đỡ của Cậu Mợ, như cho gạo ăn, rau quả trong vườn, và ít sào ruộng để mướn người trồng khoai hay nưa.

Không đói, nhưng biết chúng tôi thèm quà, các chị thỉnh thoảng xúc trộm lúa của Cậu để đổi bánh bèo bánh ướt, hay chè cháo cho chúng tôi ăn. Mỗi lần được các chị kín đáo gọi ra góc vườn vắng vẻ, là cơ hội chúng tôi được ăn thỏa thích.

Cuộc sống như thế kéo dài từ cuối năm 1945 cho đến cuối năm 1946. ( Còn tiếp)

Gurnee Sept.5 2010
Lục Phan