Phần IV-3: Hậu tản cư

Sau những ngày chạy giặc, của cải thất thoát, ruộng nương bỏ không hay thiếu chăm bón, đại đa số dân làng lâm vào cảnh thiếu ăn. Sau một thời gian ngắn, nhiều gia đình phải ăn cháo với rau, và không bao lâu rau cũng không còn.

Ngày ngày bọn trẻ nhỏ chúng tôi kéo nhau cả đám ra đồng hái rau sam, rau má, rau trai. Mỗi gia đình phải hái khoảng một thúng to mới đủ ăn.

Để cứu đói, cậu thứ ba (cậu Nẫm) và má tôi được cậu cả ( cậu Lý) cho mượn vài đám ruộng để trồng hoa mầu phụ như khoai lang và nưa.

 Ruộng Khoai Lang  Ruộng Nưa

Gia đình cậu Nẫm có nhiều trai tráng nên tự làm lấy, phần má tôi phải thuê người trồng. Không có phân bón, ngày ngày chúng tôi xuống sông vớt rong đem về ủ đống để làm phân xanh.

Nhờ số phân xanh này mà các luống khoai ngày một xanh tốt. Tuy chỉ là là khoai, môn, nhưng trong hoàn cảnh thiếu lương thực nặng nề lúc bấy giờ, là cả niềm hy vọng của dân làng.

Đúng là “ họa vô đơn chí ”, một cơn lụt đến quá sớm đã hủy hoại sạch lúa khoai! Nước lụt dâng lên nhanh chóng nhận chìm những cánh đồng hoa màu dưới làn nước bạc, xé tâm can của ngững gia đình nghèo đói!

Thế là nạn đói của cả vùng rộng lớn nói chung và của làng tôi nói riêng kéo dài thêm nhiều tháng nữa.

Khi dinh dưỡng suy sụp, bênh dịch lại dễ xuất hiện. Đang cố cầm cự với nạn đói, nạn dịch tả lại xuất hiện. Cái nạn này ở vùng quê thời bấy giờ mới thật rùng rợn!

Khởi đầu, người măc bệnh ở những làng kế cận như Mậu Tài, Quỳ Lai, Thành Phước. Ngày nào cũng có người chết. Chúng tôi bị cấm không được ăn bất cứ cây trái gì không được nấu chín, và uống nước nấu sôi để nguội.

Bệnh dịch lan truyền rất nhanh, vài ba gia đình trong thôn chúng tôi đã có người mắc bệnh. Rất ít người thoát khỏi lưỡi hái tử thần! Kém hiểu biết và suy sụp tinh thần, nhiều dân làng cho rằng bệnh dịch do ma quỷ mang đến.

Để đuổi ma quỷ đi, không còn cách nào hơn, là khua chuông gõ trống. Không có chuông trống, họ lấy thùng thiếc hay mâm đồng đánh loạn xạ cả lên.

Đặc biệt về đêm mới kinh sợ làm sao! Một nhà nào đó có người khởi bệnh, thế là người nhà bắt đầu khua thùng thiếc mâm đồng. Xóm trên vừa dứt, xóm dưới lại bắt đầu, rồi một số nhà tuy không có người mắc bệnh cũng thức dậy lấy soong nồi ra khua, để không cho ma quỷ vào nhà mình!

Kèm theo tiếng khua soong nồi thùng thiếc, thường còn nghe tiếng kêu cứu hoảng loạn của gia chủ. Mỗi lần như thế là người trong nhà đều bị đánh thức, âu lo, khó mà trở lại giấc ngủ.

Gia đình các cậu cũng như gia đình má tôi giữ vệ sinh thật kỹ. Có nhiều lúc để tránh ruồi, chúng tôi phải dùng bữa trong mùng. Cả một cơn dịch kéo dài, không một ai trong đại gia đình bị bênh, trong khi số người tử vong trong làng vì dịch khá cao.

Tưởng mọi chuyện sẽ qua đi, nhưng khi bịnh dịch sắp qua, thằng em thứ chín của tôi mắc bệnh. Tất cả chúng tôi, ngoài thằng Chín, được dời ra ở nhà cậu Nghè. Má tôi và cậu Lý, túc trực ngày đêm săn sóc cho Chín.

Tất cả được diệt trùng bằng vôi bột mà cậu tôi đã trữ sẵn từ khi bệnh dịch bắt đầu. Chín được cách ly trong buồng kín, chỉ có má tôi và ông cậu vô ra. Ngày ngày cậu tôi cho rang gạo, nấu nước cho Chín uống. Ngoài ra, cậu còn cho uống nước sắc quế thanh.

Khoảng hơn một tuần Chín khỏi bệnh, và một thời gian vài ba tuần sau, bịnh dịch hầu như cũng qua luôn. Sau này, nghiệm lại thấy Chín qua khỏi là nhờ cậu tôi chữa đúng: cho uống nước liên tục, lại là nước gạo rang. Như vậy, ngoài việc bù đắp số lượng nước mất đi vì tiêu chảy, còn cung cấp chất bổ dưỡng.

Cậu tôi chữa đúng, nhưng không hiểu nguyên lý của nó nên không phổ biến cho dân làng. Mà có lẽ, nếu phổ biến người ta không chắc gì đã nghe theo, vì họ nghĩ rằng uống càng nhiều nước càng làm bịnh trầm trọng hơn!

Vì thương má tôi mà cậu đã hết lòng săn sóc cho cháu, bất kể sự an nguy của bản thân mình. Đúng là con người nông thôn luôn có một tình cảm sâu đậm hơn, bất kể đó là tình máu mủ, bạn bè, hay lân bang xóm làng.

Một nạn lớn qua đi, một mạng người được cứu sống, nhưng cảnh đói nghèo vẫn chưa qua. Bây giờ gia đình má tôi dời ra ở hẳn nhà cậu Nghè, một nhà tường xi-măng mái ngói, nền cao cả thước, xây theo kiểu tân thời, khang trang, nằm ngay đầu làng.

Sở dĩ dời ra đây là để má tôi có thể dựng một quán nhỏ bán thuốc lá Cẩm Lệ và chút ít hàng lặt vặt khác. Quán bằng tre, phên gót ( Huế gọi là cót), và mái tranh, nằm ngay góc vườn hướng ra ngã ba đầu làng.

Lợi tức thu được từ quán này rất giới hạn, và thường giao cho mấy người anh của tôi trông coi. Thuốc lá được mua mỗi lần vài kí lô của tiệm thuốc Cẩm Lệ Bà Cửu Ới ở trên dinh (thành phố Huế).

Khoảng gần cuối năm , một chuyện đau buồn khác lại xẩy ra: thằng em út ( Thằng Mười ) chỉ đau một hôm mà chết!
Buổi chiều hôm đó người anh thứ ba dẫn thằng Mười vào nhà cậu Lý chơi. Các chị lấy cơm và thịt heo cho Mười ăn, đến tối khoảng 8,9 thì nó bắt đầu bị sốt cao. Mợ Nẫm, y tá, cho nó uống Eu-Quinine ( Thuốc giảm sốt của Pháp ). Hình như nó lên kinh nhiều lần, và mợ tôi tiếp tục cho uống thuốc giảm sốt. Đến khỏang nửa đêm, nó bị “shock” nặng và chết.
Tôi nghĩ nó bị nhiễm trùng ruột, và vì cho uống thuốc giảm sốt ở liều cao quá. Đáng lý, nên dùng nước lạnh làm hạ thân nhiệt hỗ trợ cho thuốc giảm sốt thì tốt hơn. Thật ra, trong thời đại đó, chưa có thuốc trụ sinh, việc chữa trị cũng khó.

Thằng Mười chết gây nhiều đau xót cho mẹ tôi. Đã thế, an táng nó chưa được một tuần, một trận lụt lớn ập đến. Thường nước lụt dâng lên tới đỉnh rồi rút ngay trong vòng một hai ngày. Cơn lụt quỷ quái này, nước đứng lại gần cả tuần, khiến mẹ tôi suốt ngày nhìn ra cồn mồ than khóc! Nhiều đêm tôi nằm mơ thấy Mười không chết, nó chỉ mê man chốc lát rồi tỉnh dậy, cả nhà ai cũng hết sức vui mừng!

Nhiều biến cố không may dồn dập đến, làm cho má tôi suy sụp cả tinh thần lẫn thể xác. Đời sống ở nông thôn có lẽ không còn thích hợp cho mẹ con chúng tôi. Tôi không nhớ rõ thời gian, hình như là sau Tết ta thì phải, mẹ tôi đưa chúng tôi trở lại thành phố.

Gurnee September 27 2010
Lục Phan