Tuổi Thơ IV: Cuộc sống ở Quê ngoại
Phần IV-2: Thời tao loạn

Ở quê ngoại hơn một năm khá bình yên. Người anh cả, vay được chút ít vốn, đi buôn chuyến Hội An-Hà Nội, vài tháng về nhà một lần, đưa cho mẹ tôi chút ít tiền lời kiếm được. Với một số vốn quá khiêm tốn, nên mặc dầu đã làm hết năng lực, tiền lời anh tôi kiếm được không đủ nuôi sống cho một gia đình quá đông. Phải tiếp tuc nhận sự giúp đỡ của cậu cả của tôi.

Đến cuối tháng 12 năm 1946, khi lệnh kêu gọi toàn quốc kháng chiến được ban hành, cuộc sống của mọi người đều bị ảnh hưởng nói chung, riêng gia đình má tôi bắt đầu gặp nhiều khó khăn hơn.

Mặc dầu có lệnh toàn quốc kháng chiến, nhưng tại các vùng nông thôn ở Huế vẫn đang yên ổn, chưa nghe tiếng súng, và cũng chưa thấy mặt thằng Tây. Không khí chiến tranh khởi đầu bằng việc trai tráng trong làng được kêu gọi gia nhập đội dân quân. Người gia nhập đông đảo, nhưng không có khí giới. Những người khá giả trong làng phải xuất tiền rèn gươm giáo cho dân quân.

 Lệnh Toàn Quốc Kháng chiến

Cậu cả tôi tuy đã sa sút nhiều so với lúc trước, nhưng vẫn được kể là một trong những người giàu có trong làng, vì vậy việc ủng hộ tiền bạc và lúa gạo để nuôi dân quân là luôn luôn phải đi đầu.

Hình như cậu tôi không mấy thoải mái trong việc xuất tiền nuôi quân, lại luôn tỏ ra lo sợ. Sau này tôi mới biết, mạng sống của cậu tôi bị đe dọa nặng nề. Việc phải ủng hộ tất cả những gì mình có cho cách mạng là để may ra cứu được mạng sống của mình.

Đội dân quân, lúc đầu với gậy tầm vông, về sau được trang bị giáo mác, tập trận thường xuyên. Không biết có vị nào hiểu biết chút ít về quân sự không? Chỉ thấy tập trung dẫn nhau ra đồng hò hét rất là khí thế! Khổ nỗi, sau này khi Tây bắt đầu trở lại đánh chiếm, địch chưa đến ta đã chạy mất tiêu rồi!

Mỗi lần luyện tập, toán dân quân được tập trung ở nhà cậu tôi. Gia đình câu tôi phải nấu cho cả toán ăn. Trong trường hợp cần luyện tập ớ các cánh đồng xa, người nhà cậu tôi phải nấu xôi và đùm lại trong mo cau cho từng người mang theo. Một mặt phải chi tiền mua sắm gươm giáo, một mặt lo ăn cho toán dân quân để họ “tập trận”, chỉ mấy tháng là cậu tôi đã kiệt quệ.

Sự giúp đỡ cho gia đình má tôi và gia đình cậu thứ ba đã gần như không thể tiếp tục được. Mọi người đều hiểu biết hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của cậu, nên đều ráng chịu khổ.

Gia đình má con tôi rơi vào cảnh rất khó khăn. Đời sống của toàn bộ gia đình, bấy giờ, chỉ con biết dựa vào khả năng buôn bán của người anh đầu 17 tuổi.

Là một học sinh trung học, trong một gia đình công chức, đâu có biết buôn bán là gì. Hoàn cảnh đã buộc con người phải cố mà thích ứng thôi. Anh theo những người quen, vừa làm vừa học. Mua hàng ở Hội An- Đà Nẵng đưa ra Hà Nội bán, rồi lại mua hàng ngoài đó đem vào miền trung bán.
Kể ra, hàng bán có lời, nhưng chi phí đi ra đi vào đã ăn gần hết tiền lời, vì vốn quá ít! So với những người đi buôn nhỏ khác, vốn cũng gấp 10 lần anh tôi!

Không khí chiến tranh căng lên hằng ngày. Những đoàn tuyên truyền của Tỉnh đã về làng tôi tổ chức nói chuyện và trình diễn văn nghệ ngay tại đám đất trống ở ngã ba đầu làng. Tôi còn nhớ vở kịch “ Mắt Xương Đông Dương”, được trình diễn tối hôm ấy.

Ở Huế lúc đó, theo sự ký kết với ông Hồ, có một toán lính Pháp đóng trong thành phố. Hình như lính Pháp đóng ở Tòa Khâm và Morin thì phải.

Sau lệnh toàn quốc kháng chiến, Pháp thủ kín trong đồn. Có lẽ ngoài vũ khí, chúng đã trữ nước và lương thực để có thể cầm cự lâu dài, vì vậy, bị bao vây mấy tháng trời chúng vẫn sống được.

Không có vũ khí và thiếu kinh nghiệm tác chiến nên quân Việt Nam không xâm nhập được căn cứ của chúng. Dân quân từ nông thôn đưa lên Huế đánh Pháp, không biết Morin là chỗ nào, lại thiếu phối hợp, chạy lớ ngớ bị Tây bắn chết cũng không ít!

Không có súng, bộc phá cũng không có, dân quân dùng rơm và ớt bột để công phá căn cứ giặc. Hết đợt này đến đợt khác, hao người khá nhiều mà đồn giặc vẫn còn nguyên!

Một hôm xác một dân làng, được đóng hòm ( không nhớ là Vệ Quốc Đoàn, hay Dân quân), đưa về làng làm lễ truy điệu. Cũng tại ngã ba đầu làng, nơi đóng kịch trước kia. Trong lễ truy điệu, có một người là cựu lính “khố đỏ”, bắn một phát súng trường để gây phấn chấn cho dân làng.

Đó là lần truy điệu đầu tiên và duy nhất, những người hy sình về sau chỉ lặng lẽ chôn cất. Về sau, không còn thấy đem xác về luôn.

Đến cuối tháng 3 năm 1947, Pháp đánh chiếm Đà Nẵng và Huế. Hôm trước Đà Nẵng và hôm sau Huế. Thế giặc mạnh nhờ vũ khí và đám lính thiện chiến Lê Dương.

 Lính Lê Dương

Ở Huế, quân tiếp viện của Pháp từ trong Nam, đổ bộ qua cửa Thuận An, phối hợp với toán quân trên thành phố, bắt đầu đánh chiếm toàn bộ tỉnh Thừa Thiên.

Vì không đủ quân để giữ đất, quân Pháp đánh chiếm từng vùng một. Sau khi trấn áp quân kháng chiến trong một vùng, chúng phải chuyển toàn bộ lực lường đi đánh chiếm vùng khác.

Pháp sắp tiến đến đâu, dân ở vùng đó chạy trốn qua các vùng khác. Cứ thế chạy vòng vòng cho đến khi Pháp chiếm hết cả vùng lớn, dân lại trở lại làng mình.

Gia đình má tôi cũng chung số phận. Đến vùng này ở được vài ngày lại xuống đò chạy qua vùng khác. Người ta chạy hướng nào mình chạy theo hướng ấy.


Cuộc sống thật vất vả, di chuyển liên miên. Có khi mới đến buổi sáng, buổi chiều lại phải di chuyển tiếp. Cũng có điều hết sức thú vị là bất cứ ở đâu chủ nhà luôn luôn vui vẻ đón nhận người tản cư. Cứ thấy nhà nào rộng rãi thì xin vào ở.

Tôi nhớ, tại làng Sịa thì phải, má con tôi xin vào tá túc tại nhà của một cặp vợ chồng già. Hình như ông bà có vài người con trai, nhưng đã theo các đoàn quân kháng chiến chuyển vào mặt trận Nam bộ. Hiện chỉ có một người con gái khoảng 18, 19 tuổi sống với ông bà. Điểm đặc biệt làm tôi nhớ mãi là chị ấy làm việc và ăn rất khỏe.

Công việc hằng ngày của chị là giủi tép ngoài đầm. Cứ mỗi buổi sáng, chị ấy nấu bốn lon vun sữa bò gạo ( khoảng hơn 1 kg ), ăn một nửa và một nửa đem theo cho bữa trưa.


Chị ấy giủi tép từ sáng cho đến chiều, rồi mang thẳng ra chợ bán. Một ít cá vụn và tép không bán hết đem về nhà ăn.
Nước đầm từ quá gối cho đến ngang hông, mặt đầm toàn bùn, giủi bằng tre nặng trịch, thế mà có thể đẩy cả ngày, chị phải có một sức mạnh phi thường.

Một việc làm khác của chị cũng không kém phần kinh ngạc là vớt củi mục vào mùa lụt. Khi chúng tôi đến, góc bếp nhà chị còn một đống củi mục khoảng 3, 4 mét khối. Tôi nghe mô tả lại như sau: hằng năm, vào những cơn lụt đầu mùa, một số dân làng giăng lưới trên dòng nước xiết để vớt củi mục từ nguồn trôi về. Phải mạnh và bơi lội giỏi mới dám làm, sơ sẩy là nước lũ cuốn mất xác! Củi vớt được trong vài cơn lũ đầu, có thể đủ dùng cho cả năm.

Đời sống của gia đình chị hết sức đạm bạc, và hình như hoàn toàn dựa vào năng lực làm việc duy nhất của chị. Mỗi ngày chị xúc tép bán lấy tiền mua gạo, và một vài thứ cần thiết khác. Cá vụn và tép không bán hết đem về ăn. Có bữa, chẳng có cá vụn cũng chẳng có tép, chỉ có một ít ốc bưu (dân Huế gọi là Ốc mưu), má chị đập ốc bưu ra nấu với lá bầu, lá bí được vò bằng tay cho mềm bớt, thế là xong bữa ăn tối của 3 người.

Cũng như nhiều người khác trong làng, gia đình tôi chạy lòng vòng khoảng một tháng thì quay trở về. Lúc đầu, một vài gia đình chỉ thuần ông già bà cả, không có trai trẻ, đánh bạo về trước.

Thật sự không về cũng không được, vì đâu còn tiền để sống, và cũng chẳng có công việc gì làm để kiếm sống. Những gia đình khá giả hơn, cho người trở về làng thăm dò tình hình trước. Khi thấy ổn mới đưa gia đình về. Gia đình tôi thuộc nhóm trở về cuối cùng.

Tại mặt trận Thừa thiên Huế, hình như Pháp không gặp mấy khó khăn, vì các đoàn quân chính quy tránh đụng độ để bảo toàn lực lượng, dân quân thì tan rã nhanh chóng vì thiếu vũ khí và kinh nghiệm tác chiến.

 Giặc Pháp đánh chiếm Đà-nẵng tháng 3 năm 1947

Từ ngày mặt trận Đà Nẵng và Huế vỡ, gia đình chúng tôi mất liên lạc với người anh cả, đưa gia đình tôi đến tình trạng cùng cực. Sau này mới biết anh tôi bị mắc kẹt ở Hội An, và cũng phải chạy tản cư như chúng tôi ở Huế vậy.

Pháp trở lại Đà nẵng

Vào những ngày cuối, tình hình chiến sự căng lên từng ngày, anh nghĩ sẽ buôn chuyến chót rồi trở về Huế với gia đình ngay. Không may, chưa kịp thanh toán hàng hóa, mặt trận Đà Nẵng và Huế vỡ, và anh bị đứt liên lạc với gia đình từ đó cho mãi đến nhiều năm về sau mới gặp trở lại.

Trước khi đi tản cư, Cậu tôi đã nhờ một vài người già trong xóm trông coi giúp nhà cửa. Lẽ dĩ nhiên, những người này đâu có thể làm gì được với giặc, chỉ mong là họ có thể làm cho những kẻ xấu lợi dụng sự vắng mặt của chủ nhà vào hôi của, phần nào chùn tay.

Điều không may, giặc Pháp đã lấy nhà của cậu tôi làm bản doanh, từ đó phóng ra các cuộc hành quân đến các làng lân cận. Khi rút đi, chúng lấy hết lúa trong lẫm (kho), bắt hết sạch gà vịt (khoảng vài trăm con), đập phá hết một kho đồ gỗ do người bà con gởi nhờ. Tệ hại hơn hết, là chúng đại tiện trong tất cả khoảng 8 lu ruốc ( mỗi lu khoảng 40 gallons)!

Được cách mạng tùng xẻo cho kiệt quệ, rồi lại được giặc Pháp cướp giựt đập phá, sau ngày tản cư, tài sản của Cậu tôi còn lại cái xác nhà và mấy mảnh ruộng không hoa màu.


Gurnee September 24, 2010

Lục Phan