Bãi biển chúng tôi cập vào thuộc tỉnh hạt Kuantan, cực nam Malaysia, cách Singapore khoảng 300 cây số. Rời vịnh Bà-Rịa 9 giờ tối ngày mồng 3, tấp vào Kuantan 5 giờ chiều ngày mồng 9 tháng 11, chuyến đi của chúng tôi đã kéo dài trọn 6 ngày 6 đêm.
 
Nhập bất hợp pháp vào một đất nước, không còn cách nào hơn là cố gắng làm theo hướng dẩn của họ. Theo các nhân viên an ninh nhà máy, chúng tôi có thể gặp rắc rối với chính quyền. Nếu biết điều, họ sẽ lờ đi, để chúng tôi có cơ hội làm cho tàu bị hư hại!
 
Ba bốn anh em trở lại, dùng rìu làm thủng đáy tàu và đổ một số dầu nhớt củ lên khoang máy. Tàu đang năm nghiêng, nước nhanh chóng tràn ngập giàn máy, nhơt đen nổi lềnh bềnh, cũng khá giống tàu bị hư! Thấy việc ngụy tạo của mình coi cũng tạm đươc, chúng tôi yên tâm quay trở lại nơi bà con tập trung.
 
Không thấy mặt 3 nhân viên nhà máy! Ngay lúc đó, lực lượng Task force và một nhân viên an ninh thứ thiết đến. Không thấy họ đá động gì “lý do vì sao mình tấp vào”. Rất chuyên nghiệp, trước hết họ muốn biết ai là leader, sẽ đại diện cho nhóm, để nói chuyện với họ. Rất từ tốn, họ muốn biết tổng số người, bao nhiêu nam bao nhiêu nữ, bao nhiêu người lớn bao nhiêu trẻ con. Chúng tôi xuất phát ở đâu và ngày nào. Vừa cung cấp xong các số liệu thống kê, ba xe của hội thiện nguyên “ Trăng lưỡi liềm đỏ” có cả bác sỹ đã tiếp đến. Vị sỹ quan an ninh nói chuyện ít phút với trưởng phái đoàn thiện nguyên rôi bỏ đi.
 
Bấy giờ chúng tôi được phái đoàn săn sóc hết sức ân cần. Với thái độ lịch sự và nhân đạo họ hỏi han rất căn kẻ “rằng trên đường đi chúng tôi có bị cướp bóc, có bị rơi vào tay hãi tặc, và hiện tại có ai đau ốm gì không”, làm cho chúng tôi yên tâm. Bây giờ chúng tôi vở lẻ đã bị mấy ông “Cớm dổm” hù dọa! Có lẻ ba ông bạn ấy đang ngồi tại một quán nhậu nào đó, và cười hả hê vì đã gạt được mấy tên tỵ nạn ngu ngơ.
 
Sau khi biết chắc không một ai cần giúp đở về sức khỏe ngay lúc nầy, họ đã đưa chúng tôi về một trại chuyển tiếp cũng trong quận hạt Kuantan. Trại nầy hình như không được xử dụng lâu ngày, nên mọi phương tiện đều thiếu thốn. Đến trai cũng khoảng bảy tám giờ tối, nhận được một số mì gói, chúng tôi chia nhau ăn.
 
Qua hôm sau, một nhân viên khác đến chở 4,5 anh em chúng tôi trở lại bãi biển hôm trước. Tàu của chúng tôi bây giờ hoàn toàn năm trên cạn, không rõ vì nước biển rút ra hay họ kéo tàu lên. Anh ta giao cho chúng tôi hai thùng xăng và mấy cái bánh xe hơi củ để chúng tôi đốt tàu.
 
Nhìn xác tàu lụi dần trong ánh lửa, tôi hơi bùi ngùi. Hôm sau nữa, họ dùng 2 xe bus đưa chúng tôi đi ngược trở lại phía bắc. Rời Kuantan 9 giờ sáng và đến trại chuyển tiếp tại Marang khoảng gần 5 giờ chiều. Ngủ tại đây 2 đêm, lại được chuyển bằng xe bus đến Terengganu, chờ tàu Blue Dart đưa ra đảo Bidong.
 
 
 
 Tất cả 48 người  chờ để được chuyển đi Marang bằng xe bus
 
Đảo Bidong cách bờ khoảng 25 cây số, tàu Blue Dart chạy rất nhanh, nếu tôi nhớ không lầm, chỉ chạy chưa đến một giờ là kẹp vào cầu tàu Jetty. Tại đây, nhân viên task force Malaysia hướng dẩn chúng tôi vào trại. Một bộ hồ sơ tạm thời được thiết lập cho từng người và gia đình, trước khi được chuyển đến trại tạm trú.
 
Gia đình tôi được chuyển về khu F, ở chung với 3 người trẻ. Họ ở phía dưới, gia đình chúng tôi ở trên gác. Qua ngày hôm sau lên văn phong Cao Ủy Tỵ Nạn bổ sung và điều chỉnh để có một hồ sơ chính xác và hoàn chỉnh hơn cho từng cá nhân và gia đình. Trong bộ hồ sợ nầy chúng tôi phải khai báo thân nhân trực hệ như vợ hoặc chồng, con cái, cha mẹ và anh em ruột tại Việt-nam cũng như đang sống ở nước ngoài, kể cả đang còn ở trong trại tỵ nan.
 
Tuần đầu là tuần thủ tục. Ngoại việc thiết lập hồ sơ cá nhân và gia đình, mỗi người còn có một hồ sơ sức khỏe. Thủ tục mượn chăn màn; dụng cụ nấu nướng như son chảo, bếp dầu; danh sách nhận thực phẩm. Theo định kỳ, nhận được gạo, nước mắm, dầu ăn, đậu nành, trứng gà, mì gói.
 
Thỉnh thoảng nhận được cá hay gà. Nguồn cá nhà thầu mua tại chỗ để cung cấp, nhưng gà được chuyển từ đất liền vào. Không biết thông tin từ đâu, nhưng mỗi khi có tàu chở gà từ đất liền sắp đến, mọi người trên đảo đều biết. Có khi tầu chở gà đến rất trể, vẫn phải chờ để nhận phần. Nhà tôi đông người, nên mỗi lần nhận được nguyên một con. Đặc điểm nổi bật là ở đây sản xuất toàn gà vỏ sĩ, nấu 4 giờ vẫn chưa mềm! Một thời gian sau, chúng tôi đã trồng được một luống cải xanh, tạm có rau tươi cho gia đình.
 
Sau ít ngày hoàn tất hồ sơ xin tỵ nan, mọi người tìm cách báo tin cho người thân bên Việt-nam biết đã đến bờ an toàn. Thường trong điện tín hay thư chỉ nói “mánh”, vì sợ thân nhân bị khó dể, như “Cháu Hùng đã về ở với cậu Bãy”, hay “ Cháu Tuyết Mai được học bổng toàn phần”…v.v…Tìm cách liên lạc với thân nhân và bạn bè đang ở nước ngoài cũng hết sức cần thiết. Không những có cơ may nhận chut ít tiền còm, mà chính là nơi thâu thập tin tức và giúp mình nhanh chóng bổ túc hồ sơ mỗi khi bị trục trặc.
 
Giai đoạn kế là ngày ngày ngóng chờ phái đoàn các nước, có chính sách nhận người tỵ nạn, đến phỏng vấn;  trông  chờ thư của thân nhân và bạn bè. Trong thời gian chúng tôi nằm tại đảo, ba phái đoàn hằng tháng đến nhận người tỵ nạn là Úc, Canada, và Mỹ. Giai đoạn nầy nhiều người xin đi Úc.
 
Trước hết, phái đoàn Australia đối xử rất lịch sự, và nếu được nhận, sẽ định cư rất nhanh. Trong khi phái đoàn Mỹ rất nặng nề về thủ tục hành chánh và thơi gian chờ đợi định cư rất lâu, trung bình là một năm. Hơn nữa kinh tế Mỹ đang trong thời kỳ suy thoái. Tin tức từ bà Jodie, trưởng phái đoàn Úc, cho biết rất khó kiếm việc làm ở Mỹ trong lúc nầy, làm cho không ít người ái ngại.
 
Tất cả bạn bè thân thiết, cùng mang số thứ tự nhập đảo PB738, đều xin đi định cư tại Úc. Chỉ riêng gia đình tôi xin đi Mỹ, vì anh em phía bên tôi cũng như bên bà xã đều ở Mỹ. Tôi đã trình bày với phái đoàn Canada, rằng là người tỵ nạn tôi không được quyền tùy ý chọn quốc gia mình định cư, nhưng ước nguyện của tôi là muốn sống ở Mỹ vì tại đó chúng tôi hiện có những người cật ruột. Người phỏng vấn là ông Foreman đã vui vẻ nhận lời, và hứa nếu phái đoàn Mỹ từ chối, ông sẽ nhận lại.

Tàu chở người tỵ nạn tiếp tục ghe vào Bidong.  Qua thông tin của người tị nạn, mình biết được số người lâm nạn trên biển nhiều hơn con số mình nghĩ trước đây. Dấu vết còn lại trên đảo, cũng cho mình biết một số không nhỏ người tỵ nạn tưởng đã đến được bến bờ tự do, nhưng đã phải chết một cách oan ức bởi chính sách sai lầm của chính quyền Mã-lai lúc đó.
 
Bất chấp tù tội, hoặc vùi thân ngoài đại dương, hoặc bị sát hại bởi hải tặc, hay chết thảm tại trại tỵ nan, người ta vẫn tiếp tục trốn chạy quê hương của mình!
 
Một hôm cả ngàn người ào ra cầu tau Jetty, xem một gia đình gồm hai vợ chồng hai đứa con nhỏ 10 và 8 tuôi, cùng người em trai đã vượt ngàn trùng trên một chiếc tam bản dài 3 mét không trần, gắn máy đuôi tôm! Lênh đênh nhiều ngày, nước biển và nắng đã đót cháy da mặt và da tay, người nào người nấy đen thui như người Phi châu!
 
Liều mạng đến thế là cùng. Anh ta gốc là nhà giáo, sau được huấn luyện tại Mỹ trở thành phi công F-5. Sau 75, khi ra khỏi trại tù, trở thành “ hoa tiêu cyclo”. Đến như vậy cũng không được yên ổn mấy, đành bán xich-lô dùng tiền mua ghe tam bản, và phó mặt cho trời. Sống sót được cũng tốt, mà có chết đi cũng thôi!
 
Bỗng chốc xa quê hương, xa gia đình, xa tất cả bạn bè, xóm giềng, trở nên cô đơn. Hơn nữa, mạng sống trong những ngày vừa qua như chỉ mành treo chuông! Chính vì vậy mà dể buông thả. Tuồng như tâm tư tình cảm đã biển đổi nhiều bởi tình trạng thoát chết trong đường tơ kẻ tóc!
 
Người ta khát khao tình cảm, cần người để tâm sự, dể dàng và vội vàng yêu nhau! Nhiều mối tình chưa kéo dài được bao lâu đã đến lúc chia tay ngoài ý muốn. Mỗi khi có chuyến rời trại là không biết bao nhiêu nước mắt đã rơi. Cảnh kẻ ở người đi và không có ngày tái ngộ thật xót xa. Nước mắt đầm đề, cố níu kéo nhau trong giây phút để rồi hai ngươi hai ngả. Không biết ai đã trớ trêu dùng bài hát Nghìn Trùng Xa Cách để tiển chân người rời trại. Trong hoàn cảnh nầy giọng ca trở nên da diết làm sao:
 
“ Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi”
“Còn gì đâu nữa mà khóc với cười”
……………………………………
“Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu”
…………………………………….
“Vạt tóc nâu khô còn chút thơm tho”
“Thả gió bay đi mịt mù”
………………………………
“Nghìn trùng xa cách đời dứt ngang rồi”
 
Giọng khàn khàn của Khánh Ly như xé nát tâm cang của những kẻ vừa mới yêu nhau đã phải chịu cảnh kẻ ở người đi. Ngày rời trại, đáng lý là một ngày thật vui, vì lòng mong đợi được sinh sống trên một đất nước tự do đã được chính thức chấp nhận, hay ít ra cũng nằm trong giai đoạn hoàn tất thủ tục, nhưng sao ở đây lại quá nhiều nước mắt!
 
Phải rồi “Sẽ có chăng nhiều đớn đau”. Nhớ quê hương, cha mẹ, anh em, bạn bè, và bây giờ lại phải chia tay với người yêu, tâm hồn của kẻ ở và người đi lại một lần nữa chao đảo bởi giọng hát nghẹn ngào của Khánh Ly qua loa phóng thanh:
 
“Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về”
………………………………………….
“Ngày mai em đi, đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ”
 
Hành trang thường là một gói nhỏ cầm tay và một “Biển nhớ”. Bước đi trãi dài theo cầu tàu Jetty, mỗi bước chân đi làm dài thêm đoạn đường xa cách. Con tàu Blue Dart cuộn sóng ra khơi, đâu đây vẫn còn vang vọng “Nghìn trùng xa cách…Người đã đi rồi”
 
Gurnee. April 12, 2010
Lục Phan