Con tàu máu không muốn cho chúng tôi đến gần, tắt đèn tối om chẳng khác nào một con tàu ma. Như vậy, việc hỏi đường đi, xin ít lương thực và thuốc lá đã bị chủ tàu ma xù không thương tiếc! Chúng tôi đành từ giả "con tau xú quảy "để tiếp tục hành trình tìm bến bờ tự do. Cho đến lúc nầy, chúng tôi đã đi hết 4 ngày 5 đêm. Mọi người đã thấm mệt!
 
Tuy không chính xác lắm, nhưng chúng tôi biết đang nằm trên phần biển của Mã-lai và rất gần đất liền. Vì sợ va phải đá ngầm hoặc vướng vào lưới cá, chúng tôi đã phải quét đèn pha liên tục để quan sát. Quả vậy, bắt đầu qua đêm mồng bảy rạng ngày mồng tám, thỉnh thoảng các giàng lưới cá bắt đầu xuất hiện. Biển êm gió lặng, cho tàu chạy chậm lại khoảng dưới 10km/giờ, chúng tôi hướng tàu hơi chếch về phía tây và tiếp tuc chạy cho đến sáng hôm sau.
 
Trời trong, với mắt trần có thể nhìn được khá xa. Có phần yên tâm, chúng tôi hướng mũi tàu về phía tây nam (230 độ), chạy suốt cả ngày mồng 8. Khoảng hai giờ sáng ngày mồng 9, nhìn thấy được ánh đèn đỏ chớp nháy, về phía tây. Có lẻ đèn từ một cột ăn-ten trên bờ, vì không được sáng như một ngọn hãi đăng. Ánh sáng chỉ đường, niềm hy vọng, dấu hiệu của bến bờ tự do! Mọi người hết sức vui mừng. Quả thật, từ lúc rời giàn khoan, tàu của chúng tôi đã tiếp tục chạy thêm hai ngày hai đêm, đã có người e ngại tàu lạc hướng chăng! Thậm chí có người còn nghĩ là có thể tàu chúng tôi đã vượt qua eo biển giữa Malaysia và Indonesia! Tôi không tin tàu chúng tôi chạy nhanh như vậy, ít nhất cũng phải 3,4 trăm cây số nữa mới đến được đó!

Hướng theo ánh đèn mà chạy, càng lúc càng rõ là đèn báo hiệu của một trụ ăn-ten khá cao. Đến khoảng 3 giờ sáng , đoán chừng rất gần bờ, chúng tôi quyết định neo lửng tầu lại chờ sáng. Khi thả neo, chúng tôi phát hiện mực nước khá nông. Quả thực tàu đã gần bờ lắm rồi.
 
Lúc đầu vẫn cho máy hoạt động, và chia nhau thức canh tàu. Về sau, thấy mặt biển quá  êm chẳng khác nào mặt sông, chúng tôi lại cho tắt máy, nhưng vẫn thay nhau thức trông tàu. Có lẻ vì quá mệt nên mọi người đã ngủ thiếp đi hồi nào không hay!
 
Đến khoảng 5 giờ sáng, chúng tôi được đánh thức bởi tiếng còi xe trên bờ. Quá đổi ngạc nhiên chen lẫn vui mừng! Trong lúc chúng tôi ngủ thiếp đi, sóng biển đã nhẹ nhàng đẩy dạt tàu chúng tôi sát bờ đến nổi thấy được người và xe đi lại trên bờ. Dưới biển ghe tàu của người địa phương qua lại khá đông. Nhiều ghe xuồng nhỏ chạy qua mặt chúng tôi, không nói gì chỉ cười thiện cảm. Không ai tiếp cận chúng tôi để xét hỏi hay giúp đở, rất ngac nhiên, nhưng sau nầy chúng tôi mới biết đó là chính sách của chính quyền Mã-lai đối với người tỵ nạn bằng thuyền: Khi tấp vào bờ thì đón, còn nếu đang chạy trên biển thì không ai được tiếp xúc.
 
Vẫn nuôi ý muốn tấp vào Singapore, chúng tôi lại kéo neo chạy tiếp. Bờ biển Mã-lai khác nhiều với bờ biển Việt-nam, gần giống như bờ sông. Chạy kẹp bờ theo ghe thuyền nhỏ của dân bản xứ, êm ả chẳng khác nào như chạy trên sông. Cứ năm mười phút lại một tàu của người bản xứ chạy vượt qua mặt, chúng tôi ra dấu hiệu chào hỏi, họ ném cho chúng tôi vài bao thuốc lá. Có tàu còn ném cho chúng tôi một số bánh làm bằng bột nếp na ná như bánh ít của mình. Chúng tôi muốn biết còn cách Singapore bao xa, nhưng có lẻ vì ngôn ngữ bất đồng, hơn nữa dân bản xứ sợ tiếp xúc với mình, nên tin tức nhận được không rõ ràng.
 
Đến khoảng gần trưa thì một chuyện không may nhỏ xẫy ra. Gọi không may nhỏ, vì may mà sự việc đã xẫy ra trên mặt biển êm ả và gần bờ, chứ nếu xẫy ra trong tình trạng biển động như mấy ngày đầu của chuyến đi, rất có thể tất cả chúng tôi đã làm mồi cho cá rồi! Nguyên do vì chạy quá gần bờ, lại thiếu chú ý, chân vịt của tàu đập vào dây cáp ngầm của một tàu đang đậu trong bến. Tàu bị rung nhẹ và chậm lại, các em dưới hầm máy cho biết là tàu bị gảy Cạc-đăng! Tuy rằng đã nhiều lần thực tập thay thế cạc-đăng, nhưng không chắc gì chúng tôi có thể thực hiện được công việc trong tình trạng biển động! Trường hợp hiện tại biển quá êm, theo bài bản, hai người lặn xuống nước, hai người sau lái và một người ở buồng máy, trong vòng 20 phút chúng tôi đã xong công việc thay thế.
 
Gặp sóng gió mới lòi ra tài công “dổm”,  gặp trục trặc máy móc mới phát hiện đồ giả. Hóa ra cây cạc-đăng tàu mình là thứ chắp nối. Người ta hàn rất khéo, khó mà biết, nhưng chỉ một lớp không được dày lắm bên ngoài. Bên trong được nối với nhau bởi một nòng thép! Vì vậy, khi chân vịt quạt vào dây cáp thì gảy ngay. Nhìn cây cạc đăng gãy với sắt rỉ bên trong, chúng tôi chỉ biết lác đầu, và hú vía! Cho đến giờ phút nầy chúng tôi đã phát hiện được 3 cái “ dổm”. Đầu tiên là hai cặp bù lon con tán dùng nối cạc-đăng với trục máy. Tại bải khuất trong vịnh Bà-Rịa, khi việc chuyển người, dầu, nước, và lương thực lên tàu hoàn tất, chúng tôi cho lệnh phát xuất. Có lẻ tài công hơi mất bình tỉnh, đã  khởi động quá mạnh khi cho tàu chạy lùi, tức tốc hai con tán gảy lịa! May mà chúng tôi đã dự liệu tình huống như vậy, nên chỉ không đầy 5 phút hai con tán đã được thay thế!
 
Con tàu nhỏ, với 48 người liều chết tìm tự do, lại tiếp tục cuộc hành trình. Để được an toàn, chúng tôi cứ theo các tàu của người bản địa chạy cách bờ chỉ vài trăm mét. Ước chừng chỉ chạy hơn một ngày nữa thì đến Tân Gia Ba. Sau nầy mới biết còn xa hơn, cách hơn 300 cây số. Đến khoảng 4 giờ chiều cùng ngày, tức ngày 9 tháng 11 năm 1982, tàu chúng tôi vẫn chạy cặp bờ bình thường. Trời bất ngờ trở gió và u ám. Về phía đông, mây đen vần vủ, vài ba cụm mây hình thù giống như vòi voi thòng xuống sát mặt biển. Mọi người trên tàu đều ái ngại, không biết thời tiếc như thế nào đây. Chúng tôi quyết định tìm nơi thuận tiện tấp vào bờ. Tiếp tục chạy khoảng 20 phút, phát hiện một bải biển cạn, bằng phẳng, nước trong veo, không có ghènh đá, nằm phía sau một nhà máy. Chúng tôi tìm cách cho tàu vào đây.
 
Vì không phải bến, nên không thể cho tàu cặp vào được.  Vậy, hoặc neo tàu khá xa bờ rồi tìm cách đưa người vào; hoặc chạy đại vào và tàu sẽ bị mắc cạn. Trong trường hợp sau, tàu có thể bị lật!  Chúng tôi chọn cách sau, và  chia trai trẻ trên tàu làm hai toán, ngôi sẳn hai bên mép bon tàu, chờ khi tàu mắc cạn, sẽ nhanh chóng nhảy cùng một lúc xuống hái bên giữ cho tàu khỏi lật úp. Một số người khỏe mạnh khác thủ ngay ở cửa hầm tàu để nhanh chóng đưa đàn bà và trẻ con lên bon. Chuẩn bị xong, chúng tôi cho tàu đâm thẳng  lên bải cát bên trong. Còn cách bờ khoảng mười  lăm thước thì tàu mắc cạn, nhưng vẫn giữ được thăng bằng nhờ hai toán trai trẻ bám hai bên thân tàu. Chỉ vài phút sau, tất cả mọi người đã thoát ra khỏi hầm tàu và được đưa xuống nước. Mấy phút sau, con tàu bị sóng đánh lật nghiêng! Nhìn thấy hai ba người, sắc phục màu xanh nước biển, tiến về phía chúng tôi, Trường, Giang và tôi vội vàng chạy đến gặp họ.
 
Vẫn còn ám ảnh bởi tin tức ghe của người tỵ nạn bị đẩy trở lại biển khi ghé vào đất Mã-lai  mấy năm trước, chúng tôi cũng có phần e ngại bị khó dể. Để trả lời vì sao đổ người vào đây, chúng tôi trình bày với họ là tàu bị hư máy và nhiều đàn bà trẻ em đang bệnh. Chúng tôi đâu ngờ đám con nít, đã 6 ngày hết sức tù túng dưới hầm tàu, gặp được bãi biển trong veo, mực nước chỉ đến gối, tha hồ nô đùa, chưa chịu lên bờ ngay.
Đám an ninh nhà máy chỉ tay về phía đám trẻ con đang tắm biển, vừa cười vừa bảo với chúng tôi: “chúng đau thật đây ư?”. Anh em chúng tôi chỉ còn biết cười cầu tài!( Còn tiếp)
 
Gurnee,April 08. 2010
Lục Phan