Suốt cả tuần nay Giang, Trường, và tôi làm viêc không nghỉ ngơi.Từ viêc xem xét lại ghe tàu, săp xếp sao cho ổn việc đưa các nhóm gia đình từ Saigòn xuống Bà-rịa, cách thức liên-lạc giữa ghe lớn với các ghe nhỏ, cũng như giữa người trên ghe và người trên bờ như thế nào. Rồi nào dầu nhớt, nước uống,  thức ăn, tin tức khí tượng dự báo thời tiếc..v..v..Chúng tôi đã lo liệu hết mình, nhưng còn có quá nhiều yếu tố mà chúng tôi hoàn toàn không kiểm soát được. Anh em chúng tôi hết sức lo-lắng, nhưng rồi “một liều ba bãy cũng liều”, nên  chúng tôi cứ theo dự tính mà tiến hành.


Từ sáng sớm cho đến khoảng 3 giờ chiều, chúng tôi, những người có quyết tâm từ bỏ “Thiên Đường”, đã được chia ra thành nhiều toán nhỏ, đáp những chuyến xe đò khác nhau, từ Sàigòn đỗ xuống Long Hương đã hoàn tất thật êm-ã.

 

Xe đò Hàng Xanh - Bà Rịa

 

Theo phân công, Trường và tôi ở trên bờ, còn Giang theo tàu. Tại Long Hương, mỗi gia-đình đươc ém vào một nhà dân, và tuyệt đối không ai được ló mặt ra ngoài để tránh bớt sư nhòm ngó của kẽ tò mò ! Bửa cơm chiều được hoàn tất trước thời điểm xuất phát khoảng hai giờ đồng hồ. Nghỉ ngơi hơn một tiếng, và mọi người được thông báo trong tư thế sảng-sàng.Tôi được anh em cho biết mọi việc ổn thỏa : ghe lớn đã vào được vị trí ấn định, dầu nhớt và lương thực đầy đủ và đã vào vị trí, và đặc biệt “ tuyến đường dự liệu” đang ổn.



Đã xế chiều, trời hết sức oi bức. Bồn chồn trong lòng, tôi ló đầu nhìn lên bầu trời, và phát hiện nhiều mây đen. Phút chốc, ánh chớp và tiếng sấm liên hồi, trơi bắt đầu mưa. Mưa càng lúc càng nặng hạt, và bầu trời tối hẳn lại thật nhanh! Tôi mừng thầm trong lòng, vi nghĩ rằng dưới cơn mưa như thế nầy ít nhiều sẽ kềm chân những tên biên phòng.

Từ Long Hương đi bộ ra con rạch dẫn ra cửa biển Vũng Tau phải vượt qua con lộ Saigon-Vũng tàu. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ được hướng dẩn đi bọc bên hông làng để tiến đến sát Quôc lộ, chờ dịp thuận lợi sẽ băng qua đường,và cuối cùng là lội qua một cánh đồng khoảng hơn cây số đễ đến “điểm tập trung” năm trên bờ con rạch nhỏ.

Tất cả các nhóm gần như phát xuất cùng một lúc, theo ánh đèn hiệu mù mờ của những người dẫn đường, nhanh chóng tiến về phía Quốc lộ. Gia đình tôi gồm hai vợ chồng và ba con bám sát với nhau. Nguyên đi trước dẫn đường rồi đến nhà tôi và Vũ, sau cùng là tôi cõng cháu Châu trên lưng.

Cơn mưa kéo dài không ngớt, trời tối đen, thĩnh thoảng nhờ ánh chớp của sét mới thấy được cảnh vật chung quanh . Vừa đi vừa chạy, nên chỉ mất khoảng 15 phút chúng tôi đã đến được bìa đường,và mọi người đã phải nằm rạp sau những bụi rậm hay nhưng chỗ thật trũng đễ tránh lộ diên. Thỉnh-thoảng một vài xe hơi hay xe gắn máy, từ phía Sàigòn xuông hay ở Ba-ria lên.  Ánh đèn quét nhanh qua, mọi người lại năm rạp và nín thở !

Cứ mỗi lúc vắng ánh đèn, một hai toán lại nhanh chóng vượt qua bên kia Quốc lộ, tại đó đã có người giúp tìm chỗ ẩn. Tuy ánh đèn của xe hơi và xe găn máy chốc chốc lại chiếu sáng mặt đường, nhưng rồi mọi người cũng đã vượt qua con lộ an toàn !

Bây giờ đến chặn đường cuối để đến địa điểm tập trung, tuy chỉ hơn cây số nhưng lại là ruộng sình, hơn nữa không còn bụi bờ gì để ẩn núp, vì vậy, mọi mgười phải đi thật nhanh để tránh bị phát hiện bởi người và xe qua lại trên đường lộ! Trời vẫn tiếp tục mưa tuy rằng không còn nặng hạt như trước, và thỉnh-thoảng vẫn còn những ánh chớp soi đường cho những con người “trốn chạy” quê hương của mình!  Càng cách xa quốc lộ nhanh bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, do đó mọi người hối hả vượt qua các đám ruộng sình, có nơi ngập hơn cả gang tay!

Vẫn Nguyên đi trước dẫn đường, nhưng bây giờ ngoài Châu trên lưng, tôi phải giúp cho nhà tôi và cháu Vũ vượt qua những bờ ruộng, có khi cao quá gối. Mỗi khi gặp một chướng ngại như thế, tôi dùng hai tay năm chăt lưng quần của Vũ và nhà tôi đễ đẩy hai mẹ con lên cùng một lúc. Hết bờ ruộng nầy lại bờ ruộng khác, đôi tay tôi cứ đở và đẩy không biết mêt. Hình như, trong cơn nguy hiểm, mình mạnh hơn bình thường thì phải ! Thường ngày, với sức nặng chưa được 50 Kg,  có lẽ một mình tôi vượt qua đoạn đường sình lầy nầy chắc cũng mệt lắm rồi, nói chi đến việc phụ giúp thêm ba người !

Chỉ lo làm sao đi thật nhanh, hơn nũa lại phải tâp trung vào việc “nâng-đở” hai mẹ con, tôi không biết đã mất bao lâu thì đến được “điểm ém cuối cùng”. Tại đây, toàn bộ đoàn vượt biên khoảng 30 người được ém ở hai nơi cách nhau chừng một trăm mét. Bây giờ trời đã hết mưa, nhưng bầu trời vẫn tối đen. Mọi người lo âu, yên lặng chờ đợi! 

Xa xa  tiếng “tành tành”của máy tàu vọng lại từ những ghe thuyền đánh bắt tôm làm nhiều người rộn-ràng trong lòng, đắc biệt là khi tiếng máy càng lúc càng gần mình hơn! Hơn môt năm đi theo tàu đánh bắt tôm, tôi đã quá quen thuôc với tiếng máy tàu của mình, nên qua tiếng máy,  tôi nhận ra ngay tàu lạ, khiến tôi càng thêm sốt ruột!

Như tin cho biết, tàu của chúng tôi đã neo bên ngoài con rạch, lẽ nào một tàu khác lại vào tranh dành đánh bắt trên con lạch nhỏ nầy ? Điều nghi ngờ của chúng tôi một phần đã thành sự thật! Một tàu nào đó, tuy thấy tàu chúng tôi neo bên ngoài, vẫn tiến sâu vào lạch, và đang hướng về phía chúng tôi !

 Bình thường môt tàu vào đánh bắt tôm trong con lạch nầy chỉ mất khoảng nửa giờ .Thế nhưng đã hơn một tiếng đồng hồ rồi mà con tàu lạ vẫn chưa chịu rời con lạch! Chúng tôi bàn với nhau, và quyết định chờ đợi, không dám liều-lĩnh đưa tàu mình vào. Hình như con tàu lạ cũng có vấn đề khác thường, và đang có ý chờ đợi một cái gì đó, vì vậy cứ xùng xình chưa chịu ra khỏi rạch! Cuối cùng, tàu lạ đã bỏ đi, nhưng cũng quá chậm trể  cho công việc của chúng tôi! Tuy biết rằng có thể gặp trở ngại, chúng tôi vẫn cố gắng nhanh chóng đưa tàu vào, đồng thời các “ Taxi” dầu-nưóc-lương thực cũng đã áp  sát điểm hẹn.

Các toán được thông báo chuẩn bị đổ người. Tiếng máy quen thuộc nghe vọng lại từ xa,  rổi gần dần, rồi tàu đã được hướng dẫn vào lạch. Anh em trên tàu và người trên bờ đã nhận đươc nhau bằng ám hiệu.

Theo kế hoạch, tàu sẽ tiép tục chạy qua điểm hẹn khoảng ba trăm thước để xem có gì khác lạ hay không, và nếu không có gì nghi-ngờ sẽ quay trở lại bốc người. Thật bất ngờ, khi sắp quay trở lại, anh em trên tàu đã phát hiện một số người khá đông đang phục trên bờ! Tiếng xôn-xao thì thầm, và cả nhũng bóng người lờ mờ di chuyển nữa! Chuyện gì đây? Cớm, Canh Me, hay môt Nhóm Vượt Biên khác?

Tàu tiếp tục chạy thêm khoảng mười phút mới quay lại, và dừng sau điểm hẹn một khoảng ngắn. Một người dưới tàu lên bờ báo cáo tình hình vừa phát hiện. Chúng tôi nghĩ đó cũng là nhóm người vượt biên, và chiếc tàu lạ xùng-xình khi nẵy có lẽ thuộc về nhóm đó.Vi một lý do nào đó đã không dám bốc người! 

Đến phiên chúng tôi cũng chưa dám đổ người, vi sợ nhóm người đó sẽ ồ-ạt nhảy lên tàu mình! Chúng tôi cố chờ đợi cho toán người đó rút đi, và quả thật, khoảng ba mươi phút sau họ đã rút đi. Đúng là “sai một ly đi một dặm”,chưa kịp đổ người, tàu đã sắp mắt cạn. Nước thũy triều rút ra rất nhanh, phút chốc đáy tàu đã chạm bùn, tuy rằng số “ hàng sống” vẫn còn nằm lại trên bờ! Bây giờ đã gần 11 giờ đêm, theo con nước tháng nầy thì khoảng 4 giờ sáng thủy triều mới lên trở lại.

 

Thông tin cho biết tình hình trong làng vẫn yên ổn, và chúng tôi quyết định rút lui. Đoàn người lại được phân thành từng toán nhỏ, lặng-lẽ trở vào làng! Gia đình tôi được chuyển vào một nhà khác, cách rất xa đường cái quan.

Gần cả tuần lễ làm việc nhiều và căn thẳng, tôi cố ngủ một chốc, nhưng đầu óc cứ nghĩ-ngợi lang-bang : không biết người của mình có bình tỉnh để đưa đươc ghe về bến an-toan không, có ai phát hiện và xì-xào chuyện không thành của mình, còn việc phải chuyển người của mình trở lên Saigon nữa ? Đầu óc cư vẫn-vơ hết chuyện nầy đến chuyện khác.

Nhớ đến cảnh vượt Quốc lộ hồi chiều, đầu óc tôi lại quay về với quá khứ của hơn 30 năm về trước, lòng tôi dấy lên môt niềm chua xót! Nhớ lại rằng năm 1948, lúc ấy tôi mới 11 tuổi, đã cùng gia đình bỏ vùng bị chiếm ( Huế ) đễ trốn vào vùng kháng-chiến (Bình định). Từ thành phố Huế, vào một buổi chiều, người ta dẫn chúng tôi đi về phía Chợ Cống, và suốt đêm hôm ấy, bằng đường bộ, chúng tôi đã đền được vùng Việt minh kiểm soát. Những ngày sau, người ta đưa chúng tôi đi từ vùng nầy sang vùng khác mà tôi không còn nhớ những địa danh nào.  

Một buổi chiều, người ta dẫn chúng tôi vừa đi vừa chạy khoảng hơn một tiếng đồng hồ đễ được áp sát một đoạn đường trên QL-I về phía Đông. Bấy giờ khoảng 7 giờ chiều, mọi người phải tìm chỗ ẫn và nai nịt gọn gàn để khi chạy không gây tiếng động. Trời bắt đầu tối, theo lệnh của người hướng dẫn, mọi người cứ hàng một chạy băng qua đường lộ từ phía Đông lên phía Tây. Chúng tôi phải chạy giữa hai Công-sự cách nhau một ngàn mét. Đạn đại-liên từ hai công-sự bắn xối xã về phía đoàn người vượt quốc lộ!  Khi vừa qua con lộ khoảng mươi thước, tôi nghe tiếng đạn véo bên tai, và tôi đã bị ngả sấp xuống đất không hiểu vì vấp chân hay quá hốt hoản! Một người nào đó chạy sau tôi nhanh chóng cầm tay tôi kéo dậy, và tôi lại tiêp tục chạy. May- mắn không thương tích gì!  Hơn một giờ sau mới đến điểm tập trung đễ kiểm điểm lại số người trong mỗi toán, và sau đó tiếp tục đi bộ thêm nhiều giờ nữa mới đến đươc vùng đất tạm an-toàn Nam Đông (thời đó gọi là CK-1).

Vì còn quá nhỏ, nên tôi không phải là người quyết định cho việc ra đi nầy, mà chỉ làm theo ý muốn của người lớn trong gia đình, tuy thế tôi đã không hề phàn nàn cho những khó-khăn và nguy-hiểm phải trãi qua. Với đầu óc thơ ngây trong sáng, tôi mơ đến một cái gì tốt đẹp. Ai có ngờ tất cả chỉ là dối trá, và cái tôi mơ tưởng hóa ra chỉ là một ảo tưởng! Nhờ những che dấu và phỉnh gạt tinh vi, rất nhiều người vẫn tiếp tục lầm tưởng! Hơn nữa, một số yếu tố khách quan lúc bấy giờ  lại đang có lợi cho kẽ điêu ngoa, quỹ-quyệt, và do đó toàn bộ đất nước Việt-nam thân yêu đã nằm gọn trong tay bạo quyền độc tài!  Không cần phải che đậy nhiều như trước, từ lời ăn tiếng nói cho đến những hành động hằng ngày, từ trên xuống dưới, đã biểu lộ cho thấy đất nước Việt-nam đang được cai-trị bởi một tập thể thô-lỗ, bạo tàn, và tham-lam quá mức! Khổ nỗi, mình đang phải chịu sự kềm tỏa khống chế bởi nhưng con người vô đạo vô thần đó! Ngay một số không ít trong hàng ngủ của chính họ, mà còn chút lương tri, cũng chán ngán cho những gì họ đang thấy!

Quyền sinh sát, bây giờ, hoàn toàn trong tay họ, tha hồ nói ngang nói ngược, tha hồ sách nhiễu, tha hồ vươn tay vơ vét! Người người sống trong ngỡ-ngàng, nhưng đễ giữ lấy cái mạng sống mong manh của mình, cố mà câm miệng, nhăm mắt, bịt tai! Cố thu mình sống nhẫn-nhục, nhưng rồi cũng không được yên thân.

Đời mình không còn gì đã đành, nhưng còn  con cái của mình thì sao đây? Cuộc sống hằng ngày hết sức ngột ngạt, tương-lai mịt-mù. Để sống được, người ta phải lừa gạt nhau. “ Lọc lừa, Mánh-mung, Chôm-chỉa” có lẽ là những điều mà người ta phải cố học càng nhanh càng tốt đễ làm kế nuôi thân!

Có ai mà không lưu-luyến với quê-hương của mình, nhưng trong hoàn cảnh nầy cũng phải đành chia tay với đất mẹ! Bao nhiêu người đã bỏ mạng trên biển cả, và biết bao phụ nữ đã phải chịu cay đắng nhục nhã với lũ cướp biển, và biết bao gia đình đã khánh tận và tù tội bởi những chuyến đi không thành, rồi cuộc sống tha phương nơi đất khách quê người, “ Không nơi nào đẹp bằng quê hương mình!”.  Hơn nữa, nằm ở Bến Súc hơn một năm, tôi đã thấy cảnh bẽ-bàng của những chuyến trốn chạy bất thành bị kéo về : khánh tận và tù đày, và nhiều điều bi thảm khác nữa!  Tôi biết rất rõ những việc ấy, nhưng tôi quyết định ra đi.Tôi đã lại vượt Quốc lộ để tìm cách xa lánh cái “ Thiên Đường”, mà trước đây tôi đã ngô-nghê liều chết vượt quốc lộ để tìm đến nó. Không may, chuyến đi bất thành, nhưng lòng đã quyết “ Thua keo nầy bày keo khác” có sao đâu.

Gurnee, Mar.30.2008

Lục Phan